Powered By Blogger





Showing posts with label Chinh quyên-Hành chính- Cơ câu. Show all posts
Showing posts with label Chinh quyên-Hành chính- Cơ câu. Show all posts

Thursday, 18 June 2015

Làm sai cứ 'rút kinh nghiệm sâu sắc' là xong






Cơ cấu quyền lực tập trung tuyệt đối không phải là hiện tượng mới lạ hay cá biệt. Hiện tượng này nảy sinh và đeo bám xã hội loài người từ thuở xa xưa khi những hình thức "nhóm", "cộng đồng" "quốc gia"… xuất hiện. Vấn đề này đã được phát hiện, lý giải từ mấy ngàn năm trước bởi những Socrates, Plato, Aristotle… và được các nhà triết học Khai sáng vận dụng từ hàng trăm năm trước để xử lý những vấn đề của nhân loại.  
Lệch lạc diện mạo văn hóa tổ chức 
Khi quyền lực của tổ chức được cơ cấu bất hợp lý, quyền lực được vun vén đến độ trở thành một giá trị áp đảo, diện mạo văn hóa của tổ chức sẽ  trở nên lệch lạc rõ nét. Bởi: khi một giá trị trong hệ thống giá trị cấu thành diện mạo văn hóa tổ chức được tôn cao quá mức, thì vị trí của nó là ở đầu chót vót bên kia của cây cầu bập bênh và những giá trị còn lại tụt thấp xuống ở đầu cầu bên này. Hệ quả là:
Thứ nhất, giá trị chuyên môn bị hạ thấp: nghiệp dư quyết định thay cho chuyên nghiệp (nhà triết học chuyên nghiệp trở thành kẻ diệt chuột nghiệp dư, cán bộ trưởng thành từ công tác thanh niên quyết định trồng cây gì trên vỉa hè thành phố thay cho nhà sinh học môi trường). Bằng cấp hình thức, danh hiệu thi đua hình thức (điều kiện cần để tiến tới hoặc bảo vệ quyền lực) chiếm ưu thế đến độ thế chỗ cho năng lực chuyên môn thực sự.  
Điều này giúp lý giải vì sao trong không ít tổ chức công (ở ta, hiện nay) tồn tại một thực tế dư thừa cán bộ được võ trang đủ các loại bằng cấp, học vị học hàm nhưng luôn khó tìm trong số đó những chuyên gia thực sự cần cho công việc.  
Thứ 2, giá trị của tính hiệu quả bị hạ thấp: mối quan tâm lớn được dành cho việc thực hiện đúng quy trình do cấp trên định đoạt, tuân thủ mệnh lệnh cấp có thẩm quyền; hiệu quả công việc ít hoặc thậm chí không được quan tâm. (Thay vì mất 30 phút để Trưởng Phòng quản trị ra quyết định và 20 ngàn đồng để nhân viên Ban Y tế mua thuốc về diệt chuột, thì người ta có thể phải mất vài tháng trời và cả đống tiền. Tất cả cho những việc sau: làm tờ trình kính gửi và đồng kính gửi mấy cấp, xin ý kiến chỉ đạo của mấy cấp, lấy báo giá, tiến hành đấu thầu lựa chọn đối tác, soạn thảo hợp đồng, đàm phán và ký kết hợp đồng, ra thông báo… để tiêu diệt tứ đại đồng đường nhà chuột).  
quyền lực, giám đốc, văn hóa, bằng cấp, thi đua
Quyền lực được vun vén đến độ thành một giá trị áp đảo, diện mạo văn hóa của tổ chức sẽ  trở nên lệch lạc. Tranh minh họa: Khều
Thứ 3, giá trị của tính sáng tạo, tính chủ động bị hạ thấp: tinh thần sáng tạo trong tổ chức công chỉ tồn tại khi tính chủ động trong công việc chuyên môn tồn tại. Khi cấp thừa hành trở nên bị động ở mức độ cao trong công việc chuyên môn của mình bởi quyền quyết định hoàn toàn thuộc về cấp trên thì tính sáng tạo bị thủ tiêu. 
Thứ 4, giá trị của tính trách nhiệm bị hạ thấp: khi có nhiều hoặc quá nhiều cấp cùng chia sẻ quyền lực (quyền cho chủ trương, quyền đồng ý về mặt nguyên tắc, quyền chỉ đạo, quyền quyết định, quyền phối hợp triển khai, quyền tham mưu…) trong quy trình giải quyết một công việc cụ thể, trách nhiệm sẽ bị dát mỏng, pha loãng đến mức có thể gọi là mơ hồ.  
Khi công việc được tiến hành không đem lại hiệu quả mong đợi hoặc bị đổ vỡ, việc truy cứu trách nhiệm sẽ thực sự khó khăn và trong nhiều trường hợp là vô nghĩa. Khi đó, biện pháp xử lý trách nhiệm tối ưu và phổ biến sẽ là: rút kinh nghiệm sâu sắc. 
Thứ 5, những giá trị văn hóa phổ quát là Chân, Thiện, Mỹ bị hạ thấp: Trong một môi trường đề cao giá trị quyền lực như vậy, việc "học giả" để hợp thức hóa bằng cấp theo "tiêu chuẩn cứng" (vốn khá phức tạp và hình thức) trở nên quen thuộc trên con đường tiếp cận, chiếm lĩnh, bảo vệ quyền lực.
Thêm vào đó, những phong trào thi đua được tổ chức trường kỳ và hết sức đa dạng, trong không ít trường hợp, cũng chung tay góp sức phát huy cách ứng xử giả dối của cộng đồng thành viên của tổ chức. Nó khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ chỉ có thể thực hiện thi đua trên giấy, bằng cách sao chép các báo cáo.  
Tuy nhiên, những danh hiệu thi đua lại có giá trị không phải hạng vừa trên con đường quyền lực. Bệnh thành tích (ảo) trong các tổ chức công đã được phát hiện từ lâu, rất có thể đã trở nên mãn tính…
Để đảm bảo "công ăn việc làm" cho đội ngũ lãnh đạo (trong nhiều trường hợp là khá đông đảo) thuộc nhóm quyền lực nêu trên, quyền quyết định các vấn đề chuyên môn vốn phù hợp với cấp thực thi được điều động di dời lên cấp trên. Điều này dẫn đến việc lãng phí khả năng chuyên môn thực sự, lãng phí thời gian của chính các đối tượng trong nhóm lãnh đạo; lãng phí khả năng lao động – sáng tạo của cán bộ chuyên môn cấp dưới; lãng phí thời gian và tiền bạc cho những thủ tục nặng nề, hình thức. Và lãng phí cũng là một tội ác. 
Trong một môi trường như vậy, thật khó để cộng đồng thành viên của tổ chức có thể thực sự nghĩ tốt, nghĩ đẹp về nhau; thực sự làm tốt, làm đẹp cho nhau. Giá trị của cái Đẹp (Mỹ ) bị hạ thấp.                                                   
Bộ máy cồng kềnh, họp hành bất tận 
Ở tầm vĩ mô, ta có những bài học đắt giá với cơ cấu quyền lực tập trung tuyệt đối. Đó là câu chuyện cả ngàn năm phong kiến trong lịch sử nước nhà. Cơ cấu quyền lực tập trung tuyệt đối kiểu phong kiến này không phải không có lúc phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp mở mang và bảo vệ bờ cõi. Nhưng nó kéo dài đến cả ngàn năm, bất chấp mọi hoàn cảnh và điều kiện.  
Cả ngàn năm với nền kinh tế đảm đang chỉ một đường cày, con trâu đi trước và người nông dân thì đi sau rốt. Cả mấy trăm năm khăng khăng chỉ với Tứ thư, Ngũ kinh; chỉ một cách thức tổ chức quyền lực duy nhất, chỉ một giá trị "tuân phục" duy nhất được đề cao.
Cơ cấu quyền lực một mình "vạn tuế" ấy, văn hóa "tuân phục" nghèo nàn ấy rồi phải đến lúc đẩy lớp lớp nông dân nghĩa sĩ vào những trận Cần Giuộc liệt oanh "rơm con cúi", "ngọn dao phay" mà chống lại những "đạn nhỏ, đạn to", "tầu thiếc, tầu đồng". 
Trong một tổ chức công, thời bây giờ, việc đề cao giá trị quyền lực như  một giá trị áp đảo của diện mạo văn hóa (và vì vậy mà hạ thấp những giá trị: chuyên môn, hiệu quả, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm…) sẽ cho ra đời một bộ máy cồng kềnh, rất kém hiệu quả với những thủ tục nhiêu khê và họp hành bất tận…? Tương lai nào cho một tổ chức công với diện mạo văn hóa như vậy?
***
Quyền lực nào thì văn hóa ấy. Văn hóa nào thì sức sống ấy. Hy vọng rằng câu chuyện diệt chuột kỳ trước và những điều bàn thêm kỳ này có thể là một giọt nước dưới chân Cầu Giấy thực thà mách bảo đôi điều hữu ích về con sông Tô Lịch "trong xanh".
———–

Tác giả: Hoàng Xuân Tuyền

Sent from my iPad

Sunday, 31 May 2015

Chuyện Cây và Người




Tiền về nơi đâu?

Mấy hôm nay, cư dân mạng xã hội chia sẻ với nhau thông tin "giật mình" về vụ chi 18 tỷ chăm sóc cây xanh tại một quận ở Cần Thơ. Tôi lập tức nhớ lại lại bài nhạc chế "tiền về nơi đâu" bằng cả sự chua chát và thấm thía về một quốc gia vừa thoát ngưỡng nghèo về mặt chỉ số kinh tế, nhưng người dân cần lao vẫn vất vả quanh năm.
cay xanh
Chăm cây xanh hay chăm "chủ" cây xanh?

Nhiều người cho rằng báo chí thích giật tít bẻ tựa để "câu view" hay "câu like". Nhưng vụ 18 tỷ đổ vào việc chăm sóc cây xanh, với tôi không chỉ là một chuyện "giật mình" mà là kinh tởm. Không kinh tởm sao được khi công ty trúng thầu hơn 18 tỷ, trong khi thuê công ty ngoài thực hiện chỉ ngót 5 tỷ đồng cho một năm. Một đứa trẻ con cũng có thể thấy số tiền trúng thầu cao hơn 300% số tiền thực tế, nếu không muốn nói "phô trương" hơn một chút là 400%. Bản thân tôi xin "nhẹ tay" đặt dấu chấm hỏi về luật pháp, quy định chi tiêu và đạo đức nghề nghiệp đối với các vị quản lý số tiền hơn chục tỷ còn lại. Hơn chục tỷ tôi nhẫm tính sẽ đổi lấy được không ít nhà tình nghĩa, tình thương, học bổng cho trẻ em nghèo, công trình phúc lợi công cộng, hay hàng tá thứ khác và tôi chắc mẫm nếu các vị quan chức thực hiện thì không thiếu người dân vỗ tay hoang nghênh, có khi còn "đội" các vị lên đầu như những đấng cứu rỗi cuộc sống nghèo nàn và khốn nạn.

Nhưng tôi tính sao bằng các phép tính của các vị. Khi các ngành chức năng chưa giải thích cho rõ ràng tung tích hơn chục tỷ/năm, chưa tính số tiền "chăm sóc cây" nhiều năm trước đó, tôi thử tưởng tượng nếu "ai đó" sử dụng số tiền đó để phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, thì sẽ có bao nhiêu biệt thự được xây lên, xe hơi sang chảnh, nền nhà rộng tít tắp, cửa hiệu sang trọng được mở, vàng bạc đầy tủ, thậm chí là hàng tá cuộc nhậu nhẹt xa xỉ với những món ăn đắt tiền mà người dân có nằm mơ cũng chẳng dám chạm miệng hoặc sờ môi.

Từ đầu năm 2015, Hà Nội, Sài Gòn rộ chuyện chặt cây cổ thụ, trồng cây "vàng tâm", vốn là những cây mỡ èo uột và yếu ớt. Trong một ngày, con đường Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội) từ màu xanh chuyển sang màu… nắng. Cái không khí ô nhiễm nặng nề tiếng ồn, khói bụi nay mất hẳn cây xanh càng khiến đất trời oi bức và phẫn nộ thay cho dòng người vẫn lũ lượt nhích xe giữa giờ cao điểm để kiếm kế mưu sinh. Trong khi đó, những gả vốn phải nếm trải cái nắng, cái gió thì được ngồi trong những chiếc xe sang trọng được gắn máy lạnh phì phò như tiếng thở nặng nhọc của những người dân cứ mãi cắm đầu cày cấy để đóng thuế "song phẳng" cho nước nhà. Và rồi những hàng cây nằm xuống, chẳng biết số "củi" chất lượng cao ấy sẽ về đâu? Hay lại là những chiếc bàn, chiếc ghế, bộ sofa quý giá được trưng bày trong những ngôi nhà sang trọng mà Tổng thống Obama có đến thăm chắc cũng phải "thèm thuồng".

Và nay đến chuyện bỏ hàng chục tỷ "chăm cây xanh" một cách vô thưởng vô phạt và khó hiểu đến mức người dân có thể tưởng tượng ra bất cứ thứ tiêu cực nào đang âm ĩ phía sau những bộ hồ sơ tuyển nhà thầu và màn "lại quả". Đến chuyện chăm sóc, quản lý cây xanh – tưởng chừng đơn giản – mà các ngành chức năng cũng phải khiến dân đắn đo và lo nghĩ cho số phận đồng tiền xương máu mà họ cực khổ góp lại. Hơn chục tỷ, các vị không chăm sóc cây, thì các vị chăm sóc ai?

Văn hóa "quỹ đen"
lut ngap
Tôi phải "thán phục" nhiều quan chức nhà mình vẫn sống hoài với cái văn hóa "quỹ đen" hay "lại quả". Dẫu biết tính quy chụp không mang đến sự tích cực tuyệt đối, nhưng xin thưa sau hàng loạt vụ "ăn kê" tương tự, như vụ Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ngân hàng Thế giới… tố quan chức Việt Nam tham nhũng, hối lộ, lập quỹ đen trong các công trình lớn, thì bản thân tôi cũng không còn đặt nhiều niềm tin về tính minh bạch phía sau những gói thầu.

Báo chí và chuyên gia nói hết lời, tốn không biết bao nhiêu giấy mực về chuyện minh bạch phía sau những gói thầu trong cơ chế thầu của Việt Nam hiện tại. Cơ chế đấu thầu kiểu gì mà "người mua" lại sẵn sàng chấp nhận một cái giá cao gấp 3 đến 4 lần so với giá thực? Minh bạch ở đâu khi hầu hết các gói thầu "dính nghi án tham nhũng" đều thể hiện rõ sự nhập nhằng trong chi tiêu và chồng chéo về mặt quản lý? Tại sao khi xã hội hiện đại với hàng loạt các hệ thống kế toán, chính phủ điện tử, giám sát công trình tiên tiến… thì nhiều dự án thầu tại Việt Nam vẫn "khó hiểu" về chuyện tài chính lẫn chất lượng? Để rồi dân phải chấp nhận những "ván bài" của các nhà quan, vốn tiền mất tật mang, đất nước mãi chẳng thoát được cảnh đầu tư nhiều mà dân chẳng hưởng được bao nhiêu.

Vào giai đoạn 2010, tôi làm việc tại một doanh nghiệp chuyên tổ chức sự kiện lớn, trong đó khách hàng là các tỉnh khu vực miền tây Việt Nam. Vốn được phân công quản lý mảng tài chính và báo giá, tôi hiểu thừa cái trò "quỹ đen" và "lại quả" của các quan nhà mình. Các sự kiện do huyện, thành phố, tỉnh đăng cai đều được rao với giá trên trời, có khi trên mức chục tỷ đồng. Và "luật chơi" cũng do các quan đưa ra, với mức 10-15%, thậm chí có khi lên đến 20-25% tổng giá trị chương trình sẽ được chuyển về tay của một vài "ông lớn" vốn có quyền quyết định ai sẽ trúng thầu. Để bù số tiền dôi ra này, doanh nghiệp được quyền "kê giá". Ví dụ, thuê ca sĩ chục triệu đồng, doanh nghiệp nhắm mắt kê gấp ba, gấp bốn. Hệ thống đèn chiếu sáng, trang trí tầm vài chục triệu, thì giá sẽ được báo là hơn trăm triệu. Thế nhưng các quan vẫn nhắm mắt ký lấy ký để, và rồi nhịp tay nhận tiền "lại quả". Sếp tôi thỏ thẻ "phải biết điều với mấy anh quản lý", nhất là trước và sau sự kiện; dịp lễ tết và những ngày "mấy ổng" thấy buồn. Lượng tiền dôi ra mỗi sự kiện để "lại quả" nếu ít thì vài trăm triệu, nhiều thì lên mức tiền tỷ chứ chẳng phải chuyện đùa.

Quyền giám sát của dân ở đâu?

Ở các nước lớn, kính thưa các đồng chí rằng việc giám sát tài chính rất ngặt nghèo. Hãy thử nhìn cảnh Tổng thống Obama phải làm việc không lương khi Hạ viện Mỹ không quyết chi ngân sách. Sẽ không có chuyện nhà nước cứ âm thầm chi rồi âm thầm quyết toán, để rồi khi dân biết thì mọi chuyện đã rồi. Một doanh nghiệp Mỹ lắc đầu ngán ngẫm khi kể về văn hóa "quỹ đen" của quan chức Việt. Tại Mỹ, doanh nghiệp chi bất kỳ thứ gì cũng phải có lý lo và minh chứng, trong khi "đút tiền hối lộ" thì hóa đơn đỏ đâu ra? Nhưng hãy thử không chung chi, thì hàng hóa nhập cảng sẽ cứ ì ạch mãi không ra được. Thế nên doanh nghiệp rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Nhiều ý kiến đề xuất phải có cơ chế giám sát tài chính được quy định trong Hiến pháp. Nhưng bản thân tôi nghĩ "đường đi ấy còn xa", bởi không phải dễ triệt tiêu các quan điểm của lợi ích nhóm. Nhưng nếu cứ mãi sống trong cái cơ chế chi tiêu quốc gia – vốn lấy tiền mồ hôi nước mắt của dân – thì chẳng biết đến bao giờ dân mới có quyền giám sát?

Sunday, 24 May 2015

Xin một tràng vỗ tay







           Người ta cũng thấy cảnh rất đông các vị com lê cà vạt xách cái xô có tí tẹo nước rắc vào gốc cây trồng sẵn để rồi gắn biển ngày tháng năm đồng chí A đồng chí B trồng cây này…

          Đi tặng quà thì bao giờ cũng phải cười tươi nhìn vào ống kính cho bằng được, thay vì nhìn vào người được tặng một cách trìu mến và âu yếm...

----------




          Tôi nghe một người bạn có con học ở Nhật kể rằng, ngày khai giảng ở đấy rất nghiêm trang mà lại giản dị. Tất cả các thầy cô giáo ra tận cổng trường đón học sinh. Rồi vào, từng thầy cô một tự giới thiệu mình, bằng cách gì tùy mỗi người miễn làm sao học trò hiểu được thầy tên gì dạy môn nào, qua đó biết sơ qua tính cách của thầy. Rồi thầy hiệu trưởng phát biểu, rồi… hết, học sinh vào lớp học ngay. Còn ở ta, cái lễ khai giảng nó rình rang thế nào mọi người biết cả rồi, có đến 80 phần trăm học sinh ngồi dưới nắng (hoặc mưa) từ sáng sớm không biết trong lễ ấy có đại biểu lãnh đạo nào đến dự, và các bác ấy phát biểu gì?

          Mà đứng về mặt hình thức, ngành giáo dục hình như vẫn còn… khiêm tốn.


          Người ta đã thấy một cái lễ khởi công xây một cái nhà tình nghĩa có mấy chục triệu bạc cho một gia đình chính sách rất nghèo mà một dàn cán bộ áo trắng cà vạt giày đen giăng hàng ngang đội mũ bảo hộ cầm xẻng quấn giấy xanh đỏ chờ hô một hai ba rồi “vẩy” xẻng tượng trưng để… chụp ảnh, ghi hình.

          Người ta cũng thấy cảnh rất đông các vị com lê cà vạt xách cái xô có tí tẹo nước rắc vào gốc cây trồng sẵn để rồi gắn biển ngày tháng năm đồng chí A đồng chí B trồng cây này…

          Đi tặng quà thì bao giờ cũng phải cười tươi nhìn vào ống kính cho bằng được, thay vì nhìn vào người được tặng một cách trìu mến và âu yếm.

          Sự hình thức đang lan tràn trong xã hội khiến cho ai đó có muốn… không hình thức lại trở nên lập dị, khác người.

          Mỗi khi có “ngày” nào đó, mà nước ta thì có vô cùng nhiều “ngày”, hình như ngày nào cũng có “ngày”, thì ngành văn hóa lại lên kế hoạch, dự trù kinh phí… để làm bandron, khẩu hiệu, pano, áp phích… kỷ niệm “ngày” như một việc đương nhiên của ngành mình. Càng xin được nhiều kinh phí để treo được nhiều cờ, bandron, khẩu hiệu… càng thể hiện ngành mình làm được nhiều việc, nhiều khi lãnh đạo cũng không biết có cần nhiều đến thế không, đến lúc thấy phố phường cứ rực cả lên, san sát khiến người đi đường nhiều khi rối mắt, chưa kể cái nọ đè cái kia, câu nọ đè câu kia nhiều khi gây phản cảm, thậm chí vì nhiều quá không duyệt được hết khiến cả chữ lẫn hình sai tè le sửa không kịp như nhiều nơi đã từng bị, có cả những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… thì mới giật mình.

          Sự hình thức ăn cả vào các buổi lễ khi phải giới thiệu đại biểu. Không thiếu ai đã đành, không được thiếu một tí chức nào ông ta đang giữ. Thôi thì cũng được vì có thể có ai đó trong số cử tọa ở dưới chưa biết, nhưng cái nạn cứ lặp đi lặp lại thì nó không còn là thông tin nữa rồi. Có một bác ấy, chức vụ ấy, người giới thiệu đã kính thưa rồi, đã giới thiệu rồi, ông phát biểu kế tiếp lại cũng kính thưa y như thế, rồi ông kế tiếp vẫn vậy, khiến người được kính thưa nhiều lúc thấy ngại. Vậy nên khi các tỉnh thành tổ chức lễ hội gì đấy thì yêu cầu đầu tiên là phải được… truyền hình trực tiếp. VTV1 là số 1, bí thì VTV2, VTV6… nhưng các bác có biết đâu là, người xem ti vi ấy, dân ấy, lại rất ít xem các buổi trực tiếp như thế. Đơn giản bởi vì cái phần kính thưa nó chiếm mất ¼ thời lượng rồi, như thể là nhân dịp “lên ti vi” thì giới thiệu cho bà con hàng xóm biết ta đang làm thế làm thế, trong khi người xem người ta chờ điều khác kia, thì mãi chả tới. Bây giờ người dân phải bỏ tiền để xem ti vi, họ có quyền chọn kênh, chọn chương trình mình thích.

          Rồi còn cái nạn “Xin một tràng vỗ tay”, nó vừa hài hước vừa đầy chất tự kỷ, yếm thế. Ban đầu là từ một vài ca sĩ “thiếu nên phải xin”, giờ đến một số bác lên phát biểu, chưa nói gì đã “xin một tràng vỗ tay”, hoặc vỗ tay mồi để dụ cử tọa vỗ tay…


         Tất nhiên sự hình thức nó đi kèm với sự phát triển của đời sống kinh tế, bởi phải có tiền mới bày vẽ được. Nhưng trong xã hội hiện nay, để “bằng chị bằng em”, nhiều gia đình, cơ quan, đơn vị… cũng phải giật gấu vá vai để… tăng thêm phần long trọng. Nhiều gia đình đám cưới đám ma xong là phạc phờ với chồng chất nợ. Nhiều đoạn đường vừa khánh thành xong đã… duy tu, nhiều chiếc cầu mới tưng bừng cờ hoa xong đã bảo dưỡng… báo chí vừa phản ánh, công ty Đức Long làm đường 14, vừa làm lễ khởi công đã đòi thu phí…

          Sự hình thức ấy, nó còn là tâm lý “kém miếng”, vậy nên nó sinh ra cái nạn trèo rào để tắm miễn phí, đè nhau để ngắt hoa, cướp hoa, chen nhau xô đẩy để nhận xuất ăn khuyến mãi, dẫu chỉ là một ổ mì…

          Từ lúc nào cái tâm lý ấy xuất hiện ở nước ta, và cách ứng xử với nó như thế nào, có lẽ không thể để xã hội tự điều tiết được, mà phải có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, nhưng phải là sự vào cuộc tâm huyết và có trách nhiệm, có chuyên môn chứ không như kiểu ngồi trên mây đề ra cấm ngực lép lái xe, tịch thu ô tô của người say, phải có ô kính trên quan tài, cộng điểm cho bà mẹ Việt Nam anh hùng đi thi đại học, và mới nhất, nghe nói đang có chủ trương cấp bằng riêng cho người lái xe số tự động…, bởi đấy cũng là một dạng hình thức, nó chả khác gì việc “xin một tràng pháo tay”…

Văn Công Hùng







Wednesday, 6 May 2015

Không còn gì để nói




Khi người lính Viết hy sinh...




Một Phi công quân sự
Lái chiếc SU 23
Chết vì gặp tai nạn
Xác được đưa về nhà
Trong một chiếc túi vải
Màu sám loại rẻ tiền
Hai lính trẻ bê nó
Không ai đi hai bên
...
Không còn gì để nói
Đúng là không còn gì
...

Thái Ba Tân
(Trích)




Khi người lính Mý hi sinh



Wednesday, 8 April 2015

Làm gì khi đất nước còn nghèo







Khi nào các vị lãnh đạo văn hóa và cả xã hội không còn bị hấp dẫn bởi những cái “nhất”, cái “vĩ đại”, cái “kỳ vĩ”… mà nhìn xuống những gì nhỏ nhất đang vận động xung quanh mình, khi đó văn hóa và những giá trị cũ cũng như mới của nó mới được thừa nhận và hấp dẫn như chúng ta mong muốn”
.
Đất nước còn nghèo, vậy mà đáng lẽ phải đồng tâm, hiệp lực giúp cho đất nước giàu mạnh, thì nhiều người trong chúng ta lại thực hành những lựa chọn văn hóa không tương ứng với điều kiện kinh tế của đất nước mình. Nhậu nhẹt đang trở thành một thứ quốc nạn mà nếu thừa nhận, nhiều nhà chức trách cũng phải bóp mồm, bóp miệng.


Hội hè đình đám đã và đang trở thành một xu hướng tiêu tiền hợp pháp, vì người ta nhân danh văn hóa, nhân danh truyền thống, nhân danh tấm lòng đối với tổ tiên, thì làm sao có thể bác bỏ. Nhầm lẫn khái niệm và ước mơ… kỷ lục, dăm năm trở lại đây, một số địa phương thi nhau làm hồ sơ đăng ký di sản văn hóa với UNESCO.


Để làm hồ sơ, không ít kinh phí đã được chi ra, không ít hội thảo đã được tổ chức. Đón cái bằng chứng nhận về treo ở nơi trang trọng, để thi thoảng nhà chức trách ngắm nghía hoặc khoe với quan khách, còn dân bản địa, liệu có bao nhiêu người hào hứng? Nhưng “một miếng giữa thế giới” chắc phải hơn “một sàng trong nước”?! Và vì thế, trên báo Tuổi trẻ ngày 26/4/2010, nhà văn Nguyên Ngọc đã nói: “Tình trạng đó thật sự là một tấn bi hài kịch“.

Nó thậm chí còn có thể kéo những người đứng đắn ra xa khỏi các hoạt động văn hóa vốn dĩ rất đáng được coi trọng, chỉ vì nó được nhắc đến quá nhiều bằng các danh hiệu và các kỷ lục đến mức phản cảm. Nó cào bằng các giá trị và đến một lúc sẽ khiến lớp trẻ không còn biết tin vào thang giá trị nào”.

Còn TS Nguyễn Văn Huy nhận xét: “Do công việc, tôi phải đi khá nhiều nước trên thế giới và chưa thấy ở đâu người ta lại “mê” được UNESCO công nhận như ở Việt Nam… Nguyên nhân của tình trạng cười ra nước mắt này có thể kể ra rất nhiều, nhưng theo tôi, nhà lãnh đạo đã không đủ quan tâm hay kiến thức cần thiết để có nhận thức chính xác: đâu là những giá trị thật cần được bảo vệ, đâu là những hoạt động mang tính hình thức, đâu là những giá trị mà chúng ta có thể sánh vai với thế giới…

Khi nào các vị lãnh đạo văn hóa và cả xã hội không còn bị hấp dẫn bởi những cái “nhất”, cái “vĩ đại”, cái “kỳ vĩ”… mà nhìn xuống những gì nhỏ nhất đang vận động xung quanh mình, khi đó văn hóa và những giá trị cũ cũng như mới của nó mới được thừa nhận và hấp dẫn như chúng ta mong muốn”. Rồi tượng đài lớn nhỏ dựng lên khắp trong Nam ngoài Bắc.

Tượng đài để nhớ, để tri ân, để lưu hình thiên cổ cũng tốt thôi. Nhưng sau cái ngày rầm rộ vận chuyển tượng đài lên Điện Biên Phủ, cả nước hân hoan vì một công trình lịch sử – văn hóa để tưởng nhớ các anh hùng đã ngã xuống vì dân tộc, đứng sừng sững trên đồi D1, thì ngay sau đó, cả nước lại kinh hoàng và thất vọng vì công trình mang trong đó niềm tự hào của bao nhiêu con người, hóa ra là đồ “dỏm”, là nơi người ta xài ngón bán thầu và rút ruột. Vì ích kỷ, người ta không đếm xỉa tới niềm tin của đồng bào, tới phẩm giá dân tộc. Đó là biểu hiện của cái gì, nếu không phải là biểu hiện của khủng hoảng lựa chọn văn hóa?

Cho nên, không có gì ngạc nhiên nếu phải chứng kiến nghịch lý bi hài giữa các công sở nguy nga, tòa ngang dãy dọc, có dãy chậu cây cảnh giá bạc triệu, có máy điều hòa chạy ù ù, có những bộ bàn ghế giá cả ngang ngửa với tài sản của một gia đình thu nhập thấp,… với các chỉ tiêu, các khẩu hiệu, với những cánh tay chém gió, với những lời có cánh về xóa đói giảm nghèo.

Và hình như đã và đang diễn ra sự vận hành ngược chiều giữa các câu khẩu hiệu, những quy định với thực tế cuộc sống? Như việc thực hiện Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/12/2001 chẳng hạn.

Trước sự quá đà của xã hội trong hoạt động này, Quy chế được ban hành, một cuộc vận động được triển khai. Quy chế ghi rõ: “Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, công ty của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm vận động gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện Quy chế này”.

Và rồi, ngay sau khi Quy chế có hiệu lực, một cán bộ cao cấp của ngành văn hóa đã rầm rộ tổ chức đám cưới cho con trai với hàng nghìn thực khách ngay tại Trung tâm Triển lãm Giảng Võ – Hà Nội. Sau gần chục năm, xem ra việc tổ chức đám cưới ngày càng tốn kém, phiền hà, và mùa cưới trở thành nỗi lo lắng cho các cá nhân và gia đình có thu nhập thấp. Còn các lễ hội thì ngày càng lãng phí, rùm beng, ngày càng gây bức xúc cho dư luận.

Tương tự như thế, ai có điều kiện quan sát hội nghị tổng kết một năm thực hiện cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, rất có thể sẽ đặt câu hỏi: Không biết chính các vị đại biểu đến dự Hội nghị đã ưu tiên sử dụng bao nhiêu phần trăm hàng Việt Nam?. Bởi có thể chứng kiến ở hội nghị, nhiều vị đại biểu áo quần hàng hiệu, xách túi đồ hiệu, nếu không đi xe Mercedes, Toyota,… thì cũng cưỡi xe máy mang nhãn hiệu nước ngoài… (!).

Vài chục năm nay, đa số cá nhân giữ vai trò lãnh đạo các cơ quan văn hóa không còn là chuyên gia hay nhà văn hóa có uy tín. Tình trạng tay ngang đưa tới những sự kiện bi hài, không chỉ trong hoạch định, tổ chức mà còn cả trong phát ngôn.

Tại một số cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương, tình hình còn thê thảm hơn, với một số lãnh đạo ở các cơ quan này, dường như sau khi nghe giảng và thi hết môn học về văn hóa ở trường chính trị cấp nào đó là đã giải quyết xong tri thức về văn hóa, đặc biệt là văn học – nghệ thuật (?!).

Và rồi, chỉ cần nghe vài điều họ nói, đọc mấy thứ họ viết là có thể nhận ra tri thức của họ ở mức độ nào. Thêm nữa, với các hội văn học – nghệ thuật cấp tỉnh, thì sự sinh tồn của nó chủ yếu từ nguồn kinh phí của địa phương. Các hội đoàn này rất khó có thể tự mình quyết định sự tồn tại một cách lắt lay hay hoành tráng, nhưng đó lại là nơi có khả năng tạo ra các vị quan văn nghệ, cũng lên xe xuống xe, cũng tham gia hội nghị, cũng có mặt tại cuộc họp của tỉnh, cũng được cấp huyện đón tiếp long trọng… và thi thoảng lại thấy báo chí ầm ĩ đưa tin hội này hội nọ cũng kiện tụng, đấu đá nhau tơi bời!

Bằng vào những gì đã quan sát và tiếp xúc, kẻ viết bài này muốn đặt ra câu hỏi: Tới hiện tại, phải chăng với lãnh đạo văn hóa ở một số địa phương, công tác văn hóa chỉ bó gọn trong tổ chức lễ hội quảng bá du lịch, làm hồ sơ để được công nhận di tích văn hóa, tổ chức hội diễn văn nghệ, kẻ vẽ khẩu hiệu và pano giăng khắp tỉnh lị nhân dịp một hội nghị cấp tỉnh, hay kỷ niệm một sự kiện?

Cần nói thêm, hoạt động văn hóa ở một vài địa phương còn trở thành nơi phô trương các phong trào với trống giong cờ mở; thậm chí là lĩnh vực để một vài vị quan đầu tỉnh trổ tài thơ ca với dăm ba văn bản mà nếu coi đó là thơ, thì thật sự đã xúc phạm nàng thơ. Vậy mà vẫn có vị vác phứa thơ ra đọc vang vang trước công chúng.

Vậy mà cũng có nhạc sĩ hàng tỉnh hăng hái phổ nhạc, mời ca sĩ ở trung ương về biểu diễn và ghi hình, in VCD biếu tứ tung; rồi phát trên đài phát thanh – truyền hình địa phương cho công chúng cả tỉnh cùng thưởng thức(?!). Hay tại một vài hội nghị, họ buộc đại biểu phải ngồi nghe qua loa phát thanh, hay “điểm tâm” qua chương trình văn nghệ trước giờ khai mạc.

Thường thì, sau khi tiết mục văn nghệ gắn tên lãnh đạo trình diễn xong, lập tức có một số vị vội vàng chạy đến vừa xun xoe bắt tay, vừa khen nức nở. Nhìn vẻ hân hoan của vị lãnh đạo đầu tỉnh kiêm nghệ sĩ cuối xã mà buồn. Có làm ra hàng nghìn tác phẩm như thế, họ vẫn không bao giờ có được danh hiệu nghệ sĩ, đừng vì thói hoang tưởng, thú chơi riêng của mình mà lại làm khổ người khác.

Nên, tại tỉnh nọ, nhân Ngày Thơ Việt Nam, người ta long trọng tổ chức đêm thơ của chủ tịch tỉnh, nhưng hầu như văn nghệ sĩ trong tỉnh không tới dự. Nên, một nhà thơ – nhạc sĩ mới có cơ hội tán thối, bốc thơm: “Nhiều người đã từng nghe bài thơ của ông PXĐ (chủ tịch một tỉnh ở miền Bắc – NH) nhưng khi nghe nó được chắp cánh bằng âm nhạc Đỗ Hồng Quân thì đã rưng rưng xúc động và đón nhận chân thành. Có gì linh ứng giữa những người đã khuất với tác giả thơ, tác giả nhạc cùng anh em nghệ sĩ biểu diễn khiến cho tác phẩm ngay lập tức đã xác định được tầm vóc của nó”.

Thế nên, văn hóa dân gian ở tỉnh nọ mới có giai thoại về lãnh đạo cơ quan văn hóa cấp tỉnh hỏi nhạc sĩ cấp dưới: “Bài hát của tớ, cậu viết xong chưa?”.

Khoảng chục năm trở lại đây, xem chừng đa số “chiến lược gia” của văn hóa đất nước nếu không già lụ khụ thì cũng đã quá tuổi về hưu, đặc biệt là uy tín xã hội – nghề nghiệp của nhiều người không cao; còn người trẻ, tuổi dưới 50, thì rất hiếm.

Đến dự các hội nghị, hội thảo về văn học nghệ thuật nói riêng, về văn hóa nói chung, tìm hiểu thành viên một số công trình nghiên cứu có tính chiến lược về văn hóa, đều thấy nhan nhản “chiến lược gia” râu tóc bạc phơ. Ở đâu cũng gặp từng ấy gương mặt, ra Bắc vào Nam, và đa số thường quả quyết những điều không mới, nhưng lại luôn tỏ vẻ quan trọng.

Họ yêu cầu văn hóa phải thế này, văn hóa phải thế kia. Họ phê phán lớp trẻ sa sút phẩm chất văn hóa, họ lên án tác phẩm này sex, tác phẩm kia xuyên tạc lịch sử,… nhưng họ lại hoàn toàn im lặng hơi lặng tiếng khi có người “tụt quần” theo đúng nghĩa đen của động từ này để trình diễn tác phẩm wc.đọc, hoặc trút bỏ xiêm áo để làm ra tác phẩm được gọi là Bay lên. Họ im lặng vì không theo dõi nên không biết? Vì biết nhưng không có gì để nói?

Hàng chục năm rồi, họ bàn bạc, họ phê phán, họ khẳng định, họ đề xuất những điều to tát, mà không biết tại sao văn hóa lại cứ đi theo đường của nó, bất chấp việc họ được cấp tiền tỷ để thực hiện những đề tài, trong đó chứa đựng vô số kiến nghị mà nếu làm theo lời họ, thì văn hóa sẽ đi về đâu?

Thiết nghĩ, nếu họ thật sự tài năng, thì tài năng ấy đã phát tiết từ lâu, đâu chờ đến ngày họ lẩy bẩy bước xuống ôtô, nặng nhọc leo từng bậc cầu thang lên hội trường dự hội thảo, thì tài năng mới phát tiết. Mô tả và bình luận như vậy, có thể hơi nặng lời, nhưng đó là sự thật. Và nếu muốn văn hóa đất nước phát triển, nên thừa nhận sự thật ấy.

Để từ đó tìm ra phương cách huy động mọi người Việt Nam yêu văn hóa dân tộc, gắn bó, tự hào về văn hóa dân tộc, sẵn sàng đóng góp nhiệt tâm, công sức, trí tuệ để phát triển văn hóa. Những người như thế vẫn còn rất nhiều trong cuộc sống của chúng ta.

Vì mọi người Việt Nam chân chính, ai cũng yêu đất nước mình, ai cũng thấy tâm hồn và lòng tự trọng bị tổn thương khi văn hóa dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng. Vấn đề là hãy tôn trọng, hãy tin cậy, lắng nghe họ. Và tỉnh táo trước ý kiến của những chuyên gia “hữu danh vô thực”, hoặc cẩn trọng trước kết luận của các công trình nghiên cứu văn hóa thiếu giá trị thực tiễn

————


Tác giả: Nguyễn Hòa (An Ninh thế giới cuối tháng)












Tuesday, 3 March 2015

Đầu năm nói chuyện văn hoá





 


Ở vùng đất nào tối tăm nhất là vùng đất thường sản sinh ra tư tưởng sáng nhất. Các tôn giáo ra đời hầu hết ở châu Á: Phật, Hồi, Bà La Môn, Hindu, Cơ Đốc giáo, etc, vì châu Á là cái nôi của văn hóa phong kiến tập quyền, con người sống với nhau không khác chiếm hữu nô lệ ở châu Âu. Những tư tưởng triết học giúp nhân loại phát triển khoa học đưa đời sống con người ngày một tốt hơn, lại xuất hiện ở châu Âu, nơi tối tăm về chế độ chiếm hữu nô lệ.

Ở vùng đất xưa cũ bao giờ cũng là nơi văn hóa thuần chủng bám rễ lâu bền, bảo thủ khó thay đổi, và khó phát triển. Châu Âu và châu Á, kể cả châu Phi - cựu lục địa - là những nơi sản sinh ra tư tưởng tốt đẹp của nhân loại, nhưng lại không sử dụng nó theo hướng tốt đẹp, mà bị con người lợi dụng tư tưởng tốt ấy để sản sinh ra những chế độ độc tài nhằm thu vén sở hữu và quyền lực về cho giai cấp cầm quyền. Đại diện là chiếm hữu nô lê, phong kiến và cộng sản là những chế độ tồi tệ nhất của loài người sinh ra ở các cựu lục địa này.

Nhưng ở Tân lục địa - châu Mỹ - lại là nơi con người biết tiếp thu và áp dụng hữu ích nhất cho nhân loại để Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới nhân bản nhất. Úc và New Zealand cũng là tân lục địa, ở đó con người sống với nhau cũng nhân bản hơn.

Việt Nam cũng vậy, càng vào Nam - vùng đất mới - văn hóa sống của con người Việt cũng thoáng hơn. Đại diện Sài Gòn là đất lành chim đậu. Sài Gòn là vùng đất không phân biệt tầng lớp, vùng địa lý, nhưng đầy sức sống để những ai muốn có cơ hội để đi lên.

Vùng đất mới là vùng đất của những hội tụ đa văn hóa, đa sắc tộc và nhiều tư duy rộng mở. Nó tiếp nhận và bao dung cho mọi cá thế để xây dựng cuộc đời mới.


Khi con người ta đã quen với tem phiếu thời bao cấp, nên đâm ra nghiện nó như nghiện heroin. Thế cho nên mới có kiểu bỏ cả ngày để được mua hàng rẻ tiền và nghe chửi mắn, nhưng không sợ mất thời gian là vàng bạc của mỗi con người. Ở những vùng đất này không thể có sự đổi mới, và không nên chọn làm thủ đô của một quốc gia!

Cứ mỗi lần trở lại quê nhà là mỗi lần đau lòng, vì tư duy của cả dân đến quan đều bảo thủ và chậm tiến. Không trách được, vì họ chưa được khai tâm, mở trí ở một vùng đất cựu lục địa, đứng trên phương diện quốc gia, mặc dù Bình Định chỉ mới ra đời chỉ chưa đầy 700 năm trong cuộc Nam tiến của dân tộc.

Nói chuyện với bạn bè, ở Bình Dương cũng có cái tên Bình Đường của xứ Tây Sơn Bình Định, ở Nhà Bè Sài Gòn cũng có cái tên Phú Xuân của Huế, etc, tôi nói rằng, đó là chứng tích di dân, mở cõi mang theo cả tên làng, tên núi, tên sông của ông cha ta, nhưng dân Bình Dương sống thoáng hơn dân Bình Định.

Một người bạn nói, dân Bình Định rất dễ thương khi còn là dân, nhưng khi làm quan thì lại ác. Tôi bảo, quan ở đâu trên thế giới cũng ác, nếu luật pháp kém phân minh, do chế độ chính trị ác độc của chính khách tạo ra, chứ không riêng Bình Định và Việt Nam. Và dân ở đâu cũng dễ thương chứ không chỉ dân ở Bình Định hay ở Việt Nam.

Cứ mỗi lần di dân là mỗi lần người dân bỏ đất cũ đi tìm vùng đất được quyền sống mới thấu hiểu về chính trị, văn hóa và luật pháp, nên họ xây dựng vùng đất mới một nét văn hóa sống mới và nền pháp luật tốt đẹp hơn.

Tuổi thơ ở đâu, quê hương ở đó. Đó là chân lý trường tồn. Cuối thập niên 1970, khi Đặng Tiểu Bình quyết định tặng học bổng toàn phần cho những tài năng trẻ du học Hoa Kỳ, mà không bắt buộc họ quay về, nhằm giúp ích cho Trung Hoa tương lai, thì nhiều lãnh đạo cao cấp của Trung Hoa lúc bấy giờ lo ngại. Nhưng ông Đặng vẫn thực hiện, và khẳng định, họ ra đi rồi họ sẽ về, vấn đề là chế độ đãi ngộ. Năm 1990, ông Đặng đã chứng minh được điều này, và hôm nay Trung Hoa là cường quốc.

Gần đây, những người Việt trốn chạy cộng sản ở Việt Nam - mà thường được gọi là thuyền nhân: boat people - là những thanh niên ra đi từ tuổi đôi mươi, sức trẻ tràn trề ra đi 40 năm trước, giờ đã cạn ngọn đèn dầu sức lực ở xứ người, quay về Việt nam nghỉ hưu và chờ nằm với mảnh đất chôn nhau cắt rún.

Bản thân tôi cũng không ngoài quy luật này. Tết nào, tôi cũng mong được về quê Bình Định để ăn tết. Vì ở đó, tôi có tuổi thơ ngây, là những ngày đẹp nhất của một đời người, dù tuổi thơ của thế hệ chúng tôi vô cùng vất vả với chiến tranh, rồi với từng con tem, cái phiếu thời bao cấp của cộng sản chiếm miền Nam.

Văn hóa không chỉ là chứng cứ cho sự tồn tại của một dân tộc, mà còn là gốc rễ của sự phát triển cho tư tưởng, kinh tế, chính trị, giáo dục và mọi lĩnh vực của mọi xã hội.

Hầu hết các lãnh đạo chính trị ở các quốc gia nhược tiểu đều có nhiều chuyến công du quốc tế, đi khắp nơi ở các nền văn hóa, văn minh nhất toàn cầu, nhưng họ không vì thế mà canh tân quốc gia, mà ngược lại, để củng cố quyền lực của mình, họ nghĩ ra những chính sách bảo thủ, và tệ hại để giữ lấy cái văn hóa, và chính sách không hội nhập.

Phải chi con người ở những vùng đất cũ thấu hiểu về văn hóa, và biết hội nhập nó để góp sức để canh tân quê hương tốt đẹp hơn?

Hồ Hải






Thursday, 12 February 2015

Cần một Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng ra làm một Trần Thủ Độ








Suốt gần một tháng rưỡi nay quan sát cuộc diện Việt Nam rối loạn trong chính trị, họa ngoại xâm hiển hiện bên ngoài, văn hóa xã hội xuống cấp và suy đồi, tôi chợt nhớ đến cuộc diện Lý-Trần trong lịch sử và vai trò của Thái Sư Trần Thủ Độ, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng chính trị to lớn cho dân tộc khi ông mạnh dạn đi những nước cờ khéo léo nhằm đưa đất nước ra khỏi sự hỗn loạn của thời Lý suy và đi vào tiền Trần rực rỡ.

Khi đó, trước tình hình rối ren mục nát của đất nước vào những năm cuối của triều Nhà Lý cùng với họa ngoại xâm Bắc Triều lấp ló, Trần Thủ Độ đã có những hành động kiên quyết trong việc chấm dứt quyền lực của triều Lý suy tàn thối nát và khởi đầu cho một triều đại lịch sử mới chói lọi của dân tộc. Dù rằng dư luận có những đánh giá ông là người tàn nhẫn, mưu mô xảo quyệt, tham nhũng…nhưng sau 1000 năm bia miệng, điều đọng lại vẫn là Trần Thủ Độ là người có công hoạch định ra những nước cờ chiến lược lớn để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước, còn những khía cạnh khác của ông thì quần chúng cũng bỏ qua, khi công của ông lớn như thế, những lỗi lầm kia chỉ còn là vặt vãnh.


Cuộc diện nước Việt lúc này cũng thế, chính trị thì chia rẽ ba phe bảy phái, kinh tế thì chủ yếu bằng đi vay về xài, văn hóa xã hội suy đồi và xuống cấp nghiêm trọng trong lối sống từ quan đến dân. Bàn cờ dân tộc lúc này cần hơn bao giờ hết một Trần Thủ Độ nữa và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một ứng viên nặng ký. Trong suốt cuộc đời chính trị của Ba Dũng, có nhiều dư luận ồn ào về ông tham nhũng thế này, ông tàn ác thế kia…Bất kể những điều đó là hư hay thực, nhưng chỉ cần Ba Dũng đứng ra làm một Trần Thủ Độ thứ hai lúc ngoại xâm nội loạn này, giải quyết những hậu quả tai hại hiện hữu cho đất nước đã phát sinh sau một thời gian dài cầm quyền sai lầm của đảng. Kèm theo đó là chấm dứt họa ngoại xâm từ phương bắc bằng những nước đi mang tính căn cơ nền tảng thì dân tộc ta sẽ vinh danh ông như đã vinh danh Trần Thủ Độ. Lúc này Đồng chí X thành công thì không nói, còn thất bại thì không chỉ nguy cho ông ta, cho gia đình của ông ta, cho phe cánh của ông ta mà còn nguy cho dân tộc và đất nước


Nguy cơ từ bên trong


Bài học lớn từ đoàn kết chống ngoại xâm khi Trần Thủ Độ đứng ra giải hòa và dọn dẹp mâu thuẫn của các phe cánh khi các danh thần tướng lĩnh thời Trần đấu đá nhau vẫn còn nguyên giá trị. Một điều may mắn cho dân tộc là lúc đó các vua Trần cũng đồng tình ủng hộ Trần Thủ Độ. Còn cuộc diện hiện nay của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không được như thế, tứ trụ triều đình chưa hoàn toàn thống nhất và thậm chí còn cản phá nhau. Đó là cái khó của Nguyễn Tấn Dũng và cũng đồng thời là nguy cơ cho dân tộc.

Sau một thời gian im lặng khá dài từ khi Trung Quốc thể hiện quyết tâm bành trướng nước ta từ nước cờ giàn khoan HD-981 và nước thứ 2 là củng cố đảo Gạc Ma thành một tiền đồn quân sự thì người đứng đầu cao nhất của đảng cầm quyền Việt Nam xuất hiện.

Tổng bí thư đảng cầm quyền tái xuất hiện và phát ngôn trước công luận, thay vì nói về biển đảo và ngoại xâm theo đúng trách nhiệm người đứng đầu đảng cầm quyền để bảo vệ an ninh đất nước thì lại nói về…bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay. Nhìn các bài báo đưa tin và nhấn mạnh ý then chốt trong “phát ngôn trở lại” của ông Nguyễn Phú Trọng là “bỏ phiếu tín nhiệm khối anh sợ”. Không biết khối anh đó là khối anh nào, và vì sao sợ. Nhưng xin thưa với Tổng Bí Thư, khối anh đó sợ hay không còn chưa biết, còn cái biết rồi là dân chúng tôi thì đang sợ, sợ họa ngoại xâm và bỏ qua cơ hội “thoát Trung” lần nữa chứ không sợ gì “khối anh tham nhũng tha hóa” lúc này đâu.

Nhân dân chúng tôi, những con chốt vô danh trên bàn cờ dân tộc, vốn hiểu thân phận của mình có thể dễ dàng bị đem đi thí cho các nước cờ chính trị phe phái. Nhưng phe phái nào cũng được, bình thường các ông cứ tranh giành quyền lực và lợi ích, nhưng trước họa ngoại xâm lúc này, bất kỳ các hoạt động mang tính thanh trừng nhau đều có thể được xem như một động cơ gây rối loạn nhằm có lợi cho kẻ xâm lược. Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay mà nói như ông Tổng Bí Thư là “không đạt là cho nghỉ ngay, kể cả các ủy viên Bộ Chính Trị”. Cái gì không đạt, tiêu chí nào là không đạt nếu không phải tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất, làm thước đo và đánh giá cho 1 chính khách lúc này, là lòng yêu nước và bảo vệ được an ninh quốc gia, sau đó mới xét đến những sai lầm này kia trong quá trình cầm nắm quyền lực.

Ở Việt Nam, khác với các nước khác, ngoài các cơ quan tam quyền như Quốc Hội, Tòa Án và Chính Phủ, còn có một hệ thống là đảng. Trong hành chính quốc gia, cơ quan hứng chịu búa rìu dư luận và va chạm hệ thống nhất là chính phủ. Chính Phủ muốn thực thi pháp luật thì không khỏi người thương kẻ ghét, trong khi đảng tuy cầm quyền nhưng lại chủ yếu là làm tuyên truyền, không gây ra bức xúc nội bộ và bức xúc quần chúng bằng khối chính phủ.

Vậy lấy gì để đảm bảo các “ân oán cá nhân và lợi ích nhóm” của hệ thống sẽ không ảnh hưởng vào bỏ phiếu ?

Cái thứ hai là người đứng đầu chính phủ đang nỗ lực xoay chuyển để chống đỡ cho an ninh quốc gia đang bị đe dọa, lẽ ra đảng với chức năng lãnh đạo phía sau của mình, phải ủng hộ các chủ trương của chính phủ, và Tổng Bí Thư lẽ ra phải huy động các nguồn lực của đảng để ùng hộ Thủ Tướng lo vận động quốc tế và gia tăng sức mạnh đoàn kết nhằm kháng lại Bắc Triều, đưa quốc gia qua cơn nguy biến thì lại im lặng và triển khai hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm.

Nói như Tổng Bí Thư là bỏ phiếu để chống tham nhũng và cán bộ tha hóa. Xin thưa với Tổng Bí Thư, chống tham nhũng cũng cần nhưng chống ngoại xâm mới là khẩn thiết nhất lúc này. Dân ta cũng vốn quen với tham nhũng, có thể sống chung với tham nhũng thêm một thời gian nữa cũng chưa ai chết cả, nhưng không thể sống khi đất nước bị xâm lược, dân tộc không thể yên tâm khi hàng ngày từng miếng thịt nhỏ biển đảo bị cắn rứt với chiến thuật bành trướng gậm nhấm kiểu chuột đồng của Bắc Kinh.

Nếu cuộc bỏ phiếu cuối năm nay Thủ Tướng ngã ngựa vì các tình cảm yêu ghét cá nhân phát sinh qua công việc (đó là chưa nói đến các mưu mô chính trị) thì ai sẽ đứng ra vận động quốc tế và chỉ huy các hoạt động bên trong để chống ngoại xâm. Một Thủ Tướng mới chăng, người bên ngoài thì không được rồi vì không có “thế” và “lực”, vậy bên trong hệ thống thì ai có thể làm tốt hơn ông Nguyễn Tấn Dũng để làm người thay thế lúc này? Không có ai cả. Trừ ông Dũng ra, ông nào sẽ đi cầu được “ngoại viện” ???

Và cuối cùng, mất ông Nguyễn Tấn Dũng thì ai có lợi, tham nhũng chưa chắc đã giảm nếu mất ông nọ bà kia, nhưng coi chừng Trung Quốc hưởng lợi khi tay cầm cờ cao nhất dám đứng ra kêu gọi nhân dân đoàn kết chống xâm lược lúc này bị cách chức, thưa với Tổng Bí Thư như thế.

Trong đảng cầm quyền, Tổng Bí Thư cũng coi như vua và Thủ Tướng cũng như Thái Sư vậy. Ngày xưa thái sư Trần Thủ Độ cải cách chính trị và chống ngoại xâm hiệu quả cũng do một phần quan trọng là các vua Trần ủng hộ ông ta. Còn hiện nay thì khác, “vua” Nguyễn Phú Trọng và “thái sư” Nguyễn Tấn Dũng đang mỗi người mỗi ngả, mà hậu quả là làm suy yếu nhau. Nhân dân sẽ tôn vinh cho một thái sư dù tham nhũng này nọ nhưng có tinh thần kiên quyết chống ngoại xâm và sẽ không tha thứ cho một ông vua tuy chống tham nhũng nhưng tạo điều kiện cho quân thù tràn vào đất nước, bất chấp ông vua đó vô tình hay cố ý.

Từ giờ cho đến cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay diễn ra ở Trung Ương đảng và Bộ Chính Trị, tôi mong nhân dân cà trong và ngoài nước (như những quan sát viên) cũng như các đại biểu quốc hội và các ủy viên trung ưởng đảng (là những người tham gia bỏ phiếu), mổi người dân và quan chức hãy tự hỏi mình “nếu thủ tướng mất chức ngay sau khi bỏ phiếu, thì sẽ lấy ai ra để thay thế và dẫn dắt đất nước chống họa ngoại xâm”

Câu hỏi thứ hai là vì sao thay vì đoàn kết và ủng hộ chính phủ khởi kiện Trung Quốc trong lúc này, nguyên nhân sâu xa nào làm Tổng Bí Thư và đảng bày ra và sa vào việc có khả năng dẫn đến nguy cơ “thay ngựa giữa dòng” này trong khi giải pháp tốt hơn chưa có ?
Nguy cơ từ bên ngoài.

Trong một tháng rưỡi giữa những ồn ào bàn thảo và phân tích, nhân dân và có lẽ một bộ phận không nhỏ trong đảng và chính phủ tin rằng Mỹ sẽ ủng hộ Việt Nam bảo vệ chủ quyền đất nước. Niềm tin này là có cơ sở nếu ta nhìn sự việc dưới góc độ chiến lược “xoay trục” và ủng hộ tay cầm cờ Ba Dũng của Mỹ là một nước cờ phục đã chuẩn bị từ lâu. Điều này đúng nhưng chỉ là một điều kiện cần, cái thứ hai để chúng ta có thể đặt niềm tin tối đa vào việc này là một điều kiện đủ mà hiện nay chúng ta chưa có.

Chính phủ Mỹ là một thực thể hữu hình và nó có những sức ép của riêng nó phải chịu. Một câu nói có tính nguyên tắc chính trị không bao giờ được quên là dù nước nào ủng hộ Việt Nam thì mức đô ủng hộ đến đâu cũng cần tính trên lợi ích đến đó cho cả họ. Trong các quan hệ đồng minh luôn có vấn đề bánh ít đi và bánh quy trở lại, nhân dân và cả phe Ba Dũng đừng ngủ quên ma cho rằng Mỹ sẽ ủng hộ Việt Nam hết mình “vô điều kiện”. Bài học Sensaku và Cỏ Mây-Scarborough giữa Mỹ- Nhật Bản-Philippin-Trung Quốc là một ví dụ điển hình cho việc này.

Hẳn các độc giả còn nhớ năm 2013, khi Trung Quốc và Nhật Bản tranh chấp khu vực đảo Sensaku, Trung Quốc hiểu rằng cần phải dàn xếp với Mỹ, chia rẽ quan hệ Mỹ- Nhật thì mới có khả năng đạt được mục đích. Thế là Trung Quốc đi hai nước cờ quan trọng, cho lực lượng biển vào chiếm Sensaku đồng thời bí mật dàn xếp với Mỹ trong việc trao đổi một số quyền lợi, và suýt nữa thì đạt được mục đích.

Nước Nhật đã “cuống quýt hết cả lên” khi họ thấy trong chuyến viếng thăm vào tháng 06/2013 thì Tập Cận Bình có cuộc đi dạo nói chuyện tay đôi với Tổng Thống Obama của Mỹ. Người Nhật vốn thông minh, họ e ngại một cuộc nói chuyện tay đôi riêng tư của hai người đứng đầu hai nước lớn trong cuộc diện mình là nước nhỏ ở giữa thì có nguy cơ mình trở thành kẻ bị “bán đứng”, nếu Tập Cần Bình rỉ tai cho Obama những lợi ích Mỹ-Trung lớn hơn lợi ích Mỹ-Nhật .

Ngay sau đó, Chính quyền Nhật Bản đã phản ứng mạnh mẽ và đòi Mỹ phải cho biết nội dung mà hai ông to nhất đó nói chuyện riêng trong cuộc đi tản bộ ở Nam California là gì? Trước sự phản ứng mạnh mẽ của Nhật bằng động thái không chịu ngồi vào bàn đàm phán Mỹ-Nhât-Trung sau đó cho vấn đề Sensaku vì “bán tin bán nghi” là mình sẽ thất thế do sự âm thầm gật đầu của hai ông lớn nọ, cuối cùng tháng 4 vừa qua , Tổng Thống Obama khi công du Đông Á, đã tuyên bố Sensaku nằm trong liên minh quân sự và quan hệ chiến lược Mỹ- Nhật, thế là Nhật giữ được Sensaku, thoát được 1 tình thế “mập mờ”.

Không “nhanh mắt” đề thấy ra những chỗ hổng chết người đó, một đồng minh chiến lược khác của Mỹ là Philippin phải “ngậm đắng nuốt cay” cho sự thất thế của mình khi Mỹ “ngầm bỏ lơ và tỏ ra phản ứng thận trọng” trước sự xâm lấn của Trung Quốc, và cuối cùng Trung Quốc cũng gần như thành công trong việc lấn chiếm bãi Cỏ Mây, Scarborough trong tiếng la ó yếu ớt của tiểu quốc chủ sở hữu.

Đó là bài học nhãn tiền, phe thân Mỹ của Ba Dũng cũng như nhân dân Việt Nam đừng quên những bài học này, đôi khi trong sự giằng xé của các cường quốc đến cao trào thì họ thỏa hiệp chia chác nhau các lợi ích trên vai các nước nhỏ vào giờ chót là điều có thể, để tránh chiến tranh chưa cần thiết. Với Nhật Bản và Philipin là đồng minh chiến lược lâu năm mà còn như vậy, huống chi với đồng minh…dự bị như Việt Nam hiện nay. Mà khổ nổi, nếu lúc này không dựa vào Mỹ thì cũng không thể dựa vào nước nào cả trong khi nội lực đang rất yếu ớt.

Một kịch bản “chia đôi biển đông và kênh đào Kra” rất có thể sẽ đặt ra một khi Ba Dũng tỏ ra lần chần, hoặc vì bị o ép mà không thể giành chiến thắng tối hậu về cầm nắm quyền lực. Trong bối cảnh một chính quyền Nhật Bản và Philippin ổn định về đường lối thân Mỹ mà còn có nguy cơ “bị bỏ rơi vào giờ chót” thì Việt Nam với sự nhùng nhằng thì thế nào một khi quan hệ Mỹ-Trung đi đến nước cờ chót là “đánh hay không đánh”. Vật cùng tất biến, nếu vì Việt Nam mà Mỹ-Trung đánh nhau thì chúng ta kẹt ở giữa và thảm họa dân tộc 1975 lại tái diễn. Còn khi tới đó họ không đánh nhau mà nghị hòa cùng chia đôi lợi ích thì chúng ta cũng chết với viễn cảnh phụ thuộc Bắc triều tiếp tục.

Như vậy vấn đề đặt ra là làm gì để ngăn cản cái thế bí cho dân tộc và đất nước giữa hai cường quốc khi mà họ đánh hay đàm thì chúng ta cũng khốn khổ cả, chết ngay vì chiến tranh hay chết từ từ vì lệ thuộc cũng không khác nhau là mấy.


Việt Nam nên là một Israel thứ hai


Đã từ lâu đi nhiều nơi và gặp nhiều quần chúng từ anh xe ôm vỉa hè cho đến các học giả trí thức lẫn quan chức cấp này kia trong hệ thống, tôi đều nghe một sự khen ngợi về dân tộc Do Thái. Từ những lời khen ngợi của anh xe ôm vỉa hè về việc trồng cam trên sa mạc cho đến những khen ngợi chính trị của các học giả và quan chức khi họ thấy Israel có thể lập quốc được ngay trong thời kỳ hiện đại và tồn tại như một đồng minh “da thịt” với Mỹ.

Quan hệ của Israel và Mỹ như 1 một quan hệ của tay chân gắn bó, và chưa thấy bao giờ ông anh Mỹ có thể vì lợi ích của mình mà bỏ qua ông em Israel, dù điều đó suýt xảy ra với Nhật Bản và đã xảy ra với Philippin như tôi đã nói ở trên. Vì sao lại như thế?

Câu trả lời nằm ở vấn đề dân tộc. Những nhà quan sát hay tham gia vào chính trị Việt Nam cần nhận thấy là do quá khứ ly tán của mình, dân tộc Do Thái cắm dùi ở Mỹ lâu năm và dần dần lớn mạnh về số lượng, theo thời gian những người Mỹ gốc Do Thái đã tham gia nhiều vị trí chính trường quan trọng có ảnh hưởng vào chính sách Mỹ. Sự lớn mạnh của cộng đồng Do Thái dẫn đến mối dây đồng minh chiến lược Mỹ-Israel càng ngày càng bền vững hơn. Khi đứng trước các chính sách đối ngoại của Mỹ có thể gây phương hại đến quê hương Israel của mình, cộng đồng Mỹ gốc Do Thái đã tìm cách ngăn chặn, không để quê hương và quốc gia “nguồn cội” của mình bị hi sinh cho các nước cờ “thỏa hiệp” giữa các tay cầm cờ lớn trên bàn cờ quốc tế.

Việt Nam nếu lúc này (và sau này nữa) vẫn dưới bàn tay Ba Dũng cùng phe thân Mỹ dẫn dắt thì họ cần nhìn Nhật Bản-Philippin và Israel như một bài học để có các bước đi phù hợp. Thảm họa vượt biên năm 1975 là họa trong quá khứ nhưng là phúc trong tương lai của dân tộc. Trong một thế giới phẳng càng ngày càng rõ nét, giao thương đa quốc gia và các hàng rào địa lý, pháp lý ngày càng nhạt nhòa giữa các biên giới thì vấn đề cạnh tranh sẽ không còn gói gọn giữa quốc gia này và quốc gia khác mà sẽ là giữa dân tộc này và dân tộc khác nên đoàn kết dân tộc và dân chủ tự do là điều kiện tiên quyết.

Lúc này hơn lúc nào hết Ba Dũng phải nhìn ra vấn đề này để thực thi cho bằng được nước cờ hòa giải dân tộc thật sự. Lớn mạnh nội lực để không phải dựa vào Mỹ hay bất kỳ cường quốc nào là tuyệt vời về mặt lý thuyết nhưng việc đó không thể làm ngay trong nhất thời mà là quá trình lâu dài. Trong khi tận dụng sự đoàn kết dân tộc lúc này để “mang về” các nguồn lực chính trị từ kiều bào và sự hậu thuẫn “thực sự” từ Mỹ và Phương Tây là điều cần thiết. Nó cần thiết không chỉ cho tương lai dân tộc trong dài hạn mà còn cần thiết cho việc đảm bảo “thế thắng” của phe thân Mỹ trong chính quyền khi mà các cuộc đấu đá đã và còn sẽ diển ra tiếp tục cho đến khi quá trình thoát Trưng hoàn tất trong ngắn hạn.

Đảng cầm quyền Việt Nam (và cả phe Ba Dũng nếu có nghĩ thế) đừng tự trấn an một cách mơ hồ rằng theo thời gian, khi những người chống Cộng cao tuổi (thế hệ di dân thứ nhất) dần dần mất đi, thì một lớp trẻ thế hệ thứ hai, thứ ba… ở hải ngoại sẽ dễ dàng bị ăn bánh phỉnh của đảng như người dân trong quá khứ. Để rồi vẫn tái diễn màn cử đại diện đi trình diễn những vở kịch “hòa hợp hòa giải” mơ hồ, ru ngủ, một chiều và không thực tế. Trong một môi trường thông tin hạn chế và đời sống ngột ngạt như Việt Nam lâu nay mà càng ngày người dân còn càng thấy ra được nhiều cái tào lao nhảm nhí của đảng và đối kháng lại, độ tuổi của những người chống đối sự sai trái của đảng càng ngày càng trẻ hóa và gia tăng số lượng, thì tuổi trẻ hải ngoại cũng như thế thôi. Cộng đồng kiều bào bên ngoài, trong một xã hội thông tin tự do và đời sống khá giả hơn xa quốc nội thì họ còn biết nhiều hơn thế nữa về những điều tào lao nhảm nhí phi thực tế đang diễn ra bên trong đất nước. Làm sao mà có thể kêu gọi kiều bào tác động lúc này và sau này vào chính quyền nước họ đang cư trú để mang những chính sách chính trị-kinh tế tốt đẹp về cho quê hương khi mà chính quyền ở quê nhà còn bỏ tù, bắt bớ đàn áp những người vạch ra sự sai trái tào lao nhảm nhí của đảng cầm quyền?

Hơn bao giờ hết, tay cầm cờ Ba Dũng lúc này cần sự hậu thuẫn của quần chúng trong nước cũng như của các cộng đồng kiều bào ngoài nước cho nước cờ “thoát Trung”, nhất là Mỹ (kiều bào ở Mỹ đông nhất và đã có khả năng ảnh hưởng vào chính sách Mỹ, và lúc này Việt Nam cần Mỹ nhất). Ba Dũng muốn làm một Trần Thủ Độ thì hãy nhớ bài học cũ, đó là dù xóa bỏ triều Lý nhưng Trần Thủ Độ vẫn trọng dụng các quan lại cựu thần nhà Lý miễn là họ yêu nước và đặt lợi ích dân tộc lên trên hết trong sách lược chống Bắc triều.

Mấy hôm nay thấy trên hệ thống truyền hình và báo chí quốc gia có sự khác nhau trong tuyên truyền về Trung Quốc (người nói ra kẻ im miệng), quần chúng hiểu Ba Dũng đang cần sự ủng hộ của quần chúng trong và ngoài nước trong việc thoát Trung nhằm chống lại các bước đi cản phá của phe thân Tàu trong nội bộ. Nhưng quần chúng nào, cộng đồng kiều bào nào sẽ tin ông mà có hành động ủng hộ ông khi những người đi đầu trong việc vận động thoát Trung mấy năm nay còn nằm trong tù và chưa thấy có một lộ trình ngắn hạn nào trong việc trả tự do cho họ, thế thì chúng tôi ủng hộ ông để rồi thành con chốt thí, đi ở tù…thậm chí bị thủ tiêu hết hay sao?.

Thông điệp đầu năm của Ba Dũng là điều kiện cần nhưng chưa đủ thuyết phục. Sẽ không ai dám hành động ủng hộ ông lúc cần thiết cả. Thông điệp cải cách chính trị dân quyền dân chủ gì gì đó là những kế hoạch dài hơi. Nó chỉ có giá trị khi những việc nhỏ như tha tù chính trị chống Trung Quốc, có lộ trình khả dĩ để gây dựng “lòng tin chiến lược” ngay thời khắc mấu chốt này.

Tôi tin rằng nếu Ba Dũng sắp xếp làm ngay việc tha tù chính trị trong ngắn hạn hoặc ít nhất là công bố một quy trình cụ thể công khai cho động thái này thì quần chúng trong và ngoài nước sẽ mạnh mẽ ủng hộ ông và họ dám hành động khi cần thiết (vì cũng chẳng còn ai khác có thể làm hơn ông lúc này) và đó sẽ là khởi đầu cho một Israel thứ hai ở Châu Á. Ông cứ mạnh tay thả tù chính trị đi để quần chúng tin tưởng, tôi cũng tin rằng với hệ thống an ninh đông đúc hiện nay, vài chục ông tù nhân đó có ra tù cũng không làm gì rối loạn hơn cho đất nước được đâu.

Hãy gấp lên Ba Dũng, đi ngay những nước cờ chiến thuật cần thiết để gia tăng ưu thế cho phe mình nhằm đảm bảo chiến thắng vào lúc tối hậu. Nếu ông thua thì không chỉ ông, mà còn gia đình ông, phe nhóm ông và cả dân tộc sẽ lâm vào tình trạng còn bi đát hơn cả trước đây nữa, một khi vào giờ G nào đó, vì chán nản sự nhùng nhằng của Việt Nam, Mỹ gật đầu với Trung Quốc nhằm cùng chia hai lợi ích. Đến hôm nay ông cũng hết đường lùi rồi, vinh nhục chỉ trong những khoảng khắc còn lại trước khi “bỏ phiếu” mà thôi. Tôi nhớ trên website chính thức của ông có một banner có ghi vài chữ “tự do hay là chết”, đó cũng coi như một lời kết luận cho ông và đất nước lúc này.

Sẽ không có nhà Trần hiển hách ba lần đuổi quân Nguyên xâm lược nếu không có một Thái Sư Trần Thủ Độ dám nghĩ dám làm và mạnh tay chơi ván cờ tàn với các thế lực bảo thủ thời mạt Lý. Đoạt giang sơn thành đại nghiệp không thể không vỗ yên lòng dân, bài học này chưa bao giờ là cũ.

Nguyễn An Dân
-------------------
nguon: TTHN








Bài mới đăng

Bài ngẫu nhiên