Powered By Blogger





Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts
Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts

Sunday, 7 June 2015

Đặng Tiểu Bình - Người tạo ra Trung Hoa tham nhũng



Vài lời giới thiệu về tác giả



Bào Đồng, sinh năm 1932, nguyên Trung ương Uỷ viên khoá XIII, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban cải cách thể chế kinh tế quốc gia, nguyên Thư ký chính trị kiêm Chánh văn phòng của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương. 
Bị bắt ngày 28 tháng 5 năm1989, ngay trước vụ đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn, mãi đến 1992 mới được đưa ra xử và bị kết án 7 năm tù giam. Ông bị biệt giam tại Tần Thành giam ngục, nhà tù duy nhất thuộc quản lý của Bộ Công an, nơi giam giữ các yếu nhân, cho đến hết thời hạn, ngày 27 tháng 5 năm 1996. Ông đã giúp vào việc xuất bản và viết lời giới thiệu cho cuốn "Tù nhân của nhà nước - Nhật ký bí mật của Thủ tướng Triệu Tử Dương" (bản gốc tiếng Hán có tên là Cải cách lịch trình - 改革歷程).
Người dịch




Trong cả tháng qua, tôi bị cấm trả lời phỏng vấn, và do đó tôi dành bài viết này kỷ niệm hai mươi sáu năm ngày trấn áp mồng 4 tháng Sáu năm 1989, khi chính quyền đè bẹp mọi bất đồng chính kiến trong các thành phố trên cả nước.
Một tin nổi bật trong những ngày này là chiến dịch chống tham nhũng của Đảng Cộng sản. Trong ba năm kể từ Đại hội Đảng XVIII, cái Đại hội đã dựng nên thế hệ lãnh đạo Trung Quốc hiện nay, Chính phủ đã kêu gọi các quan chức "đả hổ, diệt ruồi" – một ẩn dụ nhắm tới mọi loại tham nhũng, lớn và nhỏ.
Trong khi Chính phủ, từng thời kỳ, cũng có trấn áp việc ăn hối lộ, đút lót, nhưng chưa từng có chiến dịch chống tham nhũng nào lên tới mức độ này. Song điều đó không có nghĩa là không có tham nhũng.
Thực ra, trong suốt hai thập niên từ sau cuộc Tuần du Hoa Nam ("Nam tuần giảng thoại" - "南巡讲话") năm 1992 nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình – khi đã bán chính thức về hưu, ông ta đi xuống Quảng Đông để đẩy mạnh việc giải phóng kinh tế một cách quyết liệt - các quan chức của Đảng Cộng sản ở mọi tầng bậc đều lặng lẽ làm giàu. Khoan dung với tham nhũng, quả thật, là một phần của những gì Đặng đã phóng tay.
Đặng, lãnh tụ tối cao từ 1978 cho đến khi chết năm 1997, ngày nay được tôn sùng như một anh hùng. Và, cũng giống như Mao Trạch Đông trước ông ta và Tập Cận Bình sau ông ta, Đặng đang được Đảng trưng ra như một nhà lý‎ luận chính trị. Tuy nhiên, chẳng hề có cái gì là Lý luận Đặng Tiểu Bình, cũng như không hề có cái Lý luận Tần Thuỷ hoàng.
Giống như Tần Thuỷ hoàng, vị hoàng đế đầu tiên đã xây dựng chế độ trung ương tập quyền của Trung Quốc, Đặng sử dụng vũ lực, chứ không phải lý luận. Ông ta sử dụng quyền lực mà Mao đã giành được cho Đảng Cộng sản, làm đòn bẩy đưa Trung Quốc đi theo con đường mới của ông ta "con đường Đặng Tiểu Bình" – tới vực thẳm tham nhũng.
Song có một điểm khác biệt. Chỉ còn có ít người ngày hôm nay ca tụng việc Tần Thuỷ hoàng "phần thư khanh nho" (焚書坑儒 – đốt sách, chôn nhà nho), nhưng khói từ những nén nhang được đốt lên để ngợi ca "con đường Đặng Tiểu Bình", tiếp tục bay tới tận thiên đình.
Tập trung chú ý vào việc tham nhũng tràn lan ở Trung Quốc ngày hôm nay mà quên đi vai trò của Đặng, thì cũng chả khác gì chuyện đổ tội cho "Bè lũ bốn tên" về việc phá hoại ầm ĩ thời Cách mạng Văn hoá (1966-1976) mà tảng lờ vai trò của Mao.

Hãy để một số người làm giàu trước đã


Câu nói nổi tiếng của Đặng là, để khai phóng kinh tế, Đảng cần phải "để cho một số người làm giàu trước". Đó là một trong những chính sách sáng tạo nhất mà một lãnh tụ Đảng Cộng sản đã chủ trương, trong khi nó mâu thuẫn trực tiếp với mục đích thành lập Đảng.
Thời Đặng đi tuần du phương Nam đó, tôi còn trong tù, sau khi bị thanh trừng năm 1989 cùng với sếp của mình, nguyên Thủ tướng và Tổng Bí thư Đảng Triệu Tử Dương.
Thoạt tiên, khi tôi đọc những văn bản được công bố công khai, tôi quả thật không hiểu, ông ta nhắm tới mục tiêu gì. Cái điều gây ấn tượng sâu sắc chính là giọng điệu cứng rắn của ông ta, được minh họa bằng ba dòng, và được trích dẫn khắp mọi nơi: "Nếu không thay đổi, chúng ta sẽ đi vào ngõ cụt! Ai không tán thành cải cách, hãy từ chức đi! Một số người sẽ làm giàu trước!"
Mặc dù giọng điệu của Đặng cứng rắn, nhưng những nét đại cương và cả thực chất chính sách của ông ta thì lại không rõ ràng. Ai sẽ là những người đó, những người làm giàu trước?
Đặng có thể ám chỉ những người mà lẽ ra Đảng Cộng sản phải đại diện: "liên minh Công Nông". Hoặc, có lẽ, những giai cấp mà chỉ gần đây mới được Đảng phục hồi: "địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, phần tử hữu khuynh". Ông ta có thể, thậm chí, nói tới tầng lớp trí thức, với hiểu biết và những kỹ năng công nghệ của họ. Song câu trả lời đúng không nằm trong những câu trên. Những người làm giàu trước hoá ra là các đảng viên và gia đình, cùng các cộng sự gần gũi của họ.
Câu hỏi "ai sẽ phải làm giàu trước" chẳng phải là trừu tượng. Đặng chắc chắn hiểu rất rõ điều đó – cũng như câu ngạn ngữ - tòa nhà sát mép nước sẽ nhận được ánh trăng đầu tiên. Nói cách khác, có những nhóm người nhất định sẽ ở vào vị trí tốt nhất để tận dụng những cơ hội mới.
Trong cái xã hội hậu 1989, quyền lực của Đảng đã chặn đứng mọi bất đồng xã hội, cải cách chính trị bị bóp nghẹt và các tổ chức có thể có ảnh hưởng mạnh đều bị cấm đoán gây rối ren, viễn cảnh cho một người dân thường lao vào biển cả kinh doanh là không sáng sủa. Chưa nói tới chuyện giàu có, họ đã may mắn nếu không bị chết đuối. Thử nghĩ tới tầng lớp nông dân rộng lớn, những người bị pháp luật cấm di chuyển vào thành phố (do những yêu cầu về hộ khẩu, chúng giới hạn các gia đình chuyển địa điểm sinh sống từ tỉnh của họ, nếu không được phép), hoặc đội quân công nhân bị các doanh nghiệp nhà nước giãn thợ. Đó chính là kết quả cuộc cải cách kinh tế của Đặng.
Thành quả cuối cùng trong cuộc cách mạng của Đặng là ai có quyền lực lớn sẽ giàu to, ai có quyền lực nhỏ sẽ giàu ít, và những người không có quyền lực sẽ vẫn sống trong nghèo đói.

Kinh doanh ở Trung Quốc như thế nào


Trong cuộc tuần du phương Nam, Đặng đã đặt ra câu khẩu hiệu nổi tiếng nhất của ông ta: "Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột, đó là con mèo tốt". Việc Đặng ủng hộ nền kinh tế thị trường đã dấy lên một làn sóng các hoạt động kinh doanh quét qua khắp nước Trung Hoa và xa cả ra ngoài biên giới của nó. Cái biển kinh doanh này của Trung Quốc là khác biệt bởi vì Đảng kiểm soát tất cả mọi chuyện. Để có hiệu lực, nó điều hành một số lớn những bãi cạn, mà những người đang bơi trên biển phải đi qua. Dưới bề mặt là những con sóng nguy hiểm.
Trong những biển dữ đó, nếu anh không trả giá cho quyền được kinh doanh, anh có thể sẽ phải đối mặt với sự can thiệp của các quan chức Đảng. Các doanh nghiệp nhà nước cũng gây khó khăn cho việc kinh doanh của anh. Các quan chức Trung Quốc quả là có tài năng thực sự trong việc gây khó dễ cho quần chúng.
Trong câu chuyện về sự lớn mạnh của Trung Quốc, những anh hùng không được ngợi ca chính là những "con mèo tốt" của Đặng.
Họ phải trả cho ai? Nói trừu tượng thì là cơ quan Đảng, và cụ thể là các quan chức Đảng – từ nguyên Uỷ viên Ban thường vụ Bộ Chính trị Châu Vĩnh Khang suốt cho tới các cán bộ huyện, xã.
Những dòng chảy ngầm của nền kinh tế thị trường, vốn đã bị chôn vùi trong nhiều thập kỷ, nay nó phun trào ra từng chút, từng chút một và làm ngập những con đê xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường giờ được hợp nhất với nhà nước-đảng trị, mà trong quá trình đó nó mất đi những đặc điểm của sự chọn lựa và cạnh tranh thực sự tự do. Thay vào đó, thị trường sẽ phải tuân thủ lợi ích của những cán bộ cao cấp trong Đảng. Từ những vốn mạo hiểm (venture capital) tới chứng khoán mới lên sàn, từ ký hợp đồng tới kiểm tra chất lượng sản phẩm, đó là cách mọi việc được sắp xếp. Không có ngoại lệ.
Quan chức trong Đảng là cơ thể của đảng. Trật tự kinh tế mới đồng nghĩa với việc phải chi trả cho các dịch vụ của cơ thể này. Các doanh nhân chung tay với quan chức để thúc đẩy Tổng sản phẩm nội địa (GDP). Đây không những là một giải pháp tốt cho những người làm kinh doanh, mà còn tạo cơ hội cho giới quan chức ghi dấu ấn về thành tích công tác. Trong nghĩa rộng hơn, nó thúc đẩy sự phát triển của nhà nước-đảng trị. 
Cơ chế thị trường bị bóp méo này phá huỷ sinh kế, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, tàn phá môi trường và đe dọa sẽ gây ra nhiều tai ương cho các thế hệ tương lai. Nhưng các ưu tiên chính trị buộc người ta phải quên đi những thiệt hại thứ phát đó.
Những ưu tiên này được thể hiện qua các khẩu hiệu như, "phải nhìn tổng thể", "chú ý đến toàn cục", "tiểu đạo lý phục tùng đại đạo lý" (nghĩa là hy sinh các nguyên tắc nhỏ hơn cho các nguyên tắc lớn hơn) và "ngạnh đạo lý áp đảo nhuyễn đạo lý" (nghĩa là các ưu tiên chủ yếu sẽ áp đảo các ưu tiên thứ yếu). Thay vì thừa nhận là họ đang thực hiện điều mà các nhà kinh tế gọi là thu tô – bòn rút một phần của cải vào túi họ, thay vì làm ra của cải – các quan chức thích tưởng tượng là họ đang trung thành với đường lối của đảng "làm những việc lớn." 
Ở Trung Quốc, nếu bạn muốn "làm những việc lớn," bạn cần mua rất nhiều chỗ dựa. Bạn phải trả tiền cho quan chức ở chức vụ cao đến mức nào tùy thuộc vào việc bạn dự định sẽ gây dựng ảnh hưởng ở cấp làng, cấp huyện, tỉnh hay thậm chí cấp quốc gia. Các quan chức của đảng, dù ở những cấp thấp nhất, cũng có thể quyết định cho phép ai thành công và thịnh vượng trong lãnh địa của họ.
Một khi lợi ích của họ được bảo đảm, một quan chức sẽ trở thành một cổ đông, người sẽ bật đèn xanh cho công việc của bạn. Chừng nào mà ông ta còn kiếm chác được, thì việc một dự án sẽ làm lợi hay gây hại cho công chúng chẳng nghĩa lý gì. Chủ đầu tư có thể yên tâm là quan chức đó sẽ chi phối những "năng lượng tích cực" để dẹp bỏ mọi trở ngại. Mô hình hợp tác kiểu này có thể chẳng làm gì để bảo vệ môi trường, thoả mãn nhu cầu nội địa hay thúc đẩy tính liêm chính công, nhưng rõ ràng là nó giúp gia tăng Tổng sản phẩm nội địa (GDP).
Đã hơn 65 năm kể từ khi Trung Quốc có được một nền dân chủ, bất kỳ hình thức nào. Tính chính danh của nhà nước- đảng trị ngày hôm nay phải dựa vào các con số thống kê về tăng trưởng kinh tế. Đối với các quan chức, không có bằng chứng thành tích nào rực rỡ hơn thế. Tham nhũng và phát triển nắm tay nhau cùng tiến.
Mao Trạch Đông quốc hữu hoá tài sản cá nhân. Đặng Tiểu Bình chuyển giao tài sản quốc gia, với cái giá rất hời, chủ yếu mang tính tượng trưng, vào tay giới tinh hoa của đảng. Kết quả là hiện nay, "các thái tử" – hậu duệ của thế hệ cách mạng sáng lập đảng, kiểm soát phần lớn của cải ở Trung Quốc.
Công chúng có nhận biết những sự việc này, nhưng phần lớn đảng viên các cấp chỉ giữ im lặng. Họ hiểu điều gì đang xảy ra, và biết rằng họ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc làm đúng theo chính sách ấy. Đây là mục đích của chuyến Tuần du Hoa Nam, để bảo đảm sự ổn định trong toàn đảng khi đường lối mới được thi hành.

Di sản của sự kiện 1989


Vào ngày mùng 4 tháng Sáu năm 1989, Đặng Tiểu Bình hạ lệnh cho Nhân dân Giải phóng quân sử dụng vũ lực đàn áp một số đông những sinh viên đấu tranh ôn hòa – tại Quảng trường Thiên An Môn và các thành phố khác trên khắp Trung Quốc - những người kêu gọi chấm dứt tham nhũng và đẩy mạnh tiến độ cải cách.
Chấn thương mùng 4 tháng Sáu là một cuộc đổi đời. Trong tình trạng không ai dám lên tiếng, thì tất cả mọi người đều mất quyền được nói, tất cả mọi người đều mất quyền được định hình cải cách, và tất cả mọi người đều bị xô đẩy theo dòng. Kết quả là mục đích cải cách của thập niên 1980 đã bị phá huỷ đến tận gốc. Công cuộc tự do hoá kinh tế do đảng lãnh đạo lẽ ra nhằm cởi trói cho cả giai cấp công nhân và chủ doanh nghiệp, giải phóng năng lượng cho họ, tạo điều kiện kinh doanh sinh lợi và chia sẻ lợi nhuận. Nhưng sau cuộc bể dâu 1989, lợi nhuận và tài nguyên đã được phân chia theo quyền lực.
Qua hành động của mình vào ngày mùng 4 tháng Sáu, Đặng Tiểu Bình đã vạch ra những đường ranh giới mới để định nghĩa kẻ địch. Đảng sẽ bảo vệ cho tham nhũng, và bất kỳ ai chống lại tham nhũng do đảng đỡ đầu, sẽ trở thành kẻ tử thù của cả đảng và quân đội.
Tiếp theo Đại hội Đảng lần thứ XVIII, phong trào "đả hổ diệt ruồi" như một chuỗi sấm sét nổ khắp Trung Quốc. Công cuộc thanh trừng tham nhũng có vẻ như là một sự kiện mở ra kỷ nguyên mới, nhưng có lẽ tác dụng to lớn nhất của nó là việc mở mắt cho người dân. Lá cờ đỏ của Trung Quốc, nhuộm đẫm máu bao liệt sĩ, đã trở thành nơi trú ẩn của kẻ ác và cách hành xử xấu xa. Hàng quân đoàn quan chức tham nhũng bị vạch mặt có thể chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, nhưng những bộc lộ này cũng đã đủ làm lu mờ tất cả các ví dụ về tham nhũng từng thấy ở Trung Quốc hay nước ngoài. Không có cách nào có thể tiếp tục che giấu sự tham nhũng toàn thể từ trên xuống dưới này, và không có cơ hội nào có thể xoá bỏ những thông tin về tham nhũng trong tâm trí người dân.
Việc đảng chiến đấu chống tham nhũng được trình bày là để phục vụ lợi ích công chúng, nhưng nếu các công dân độc lập – thành viên của các tổ chức xã hội dân sự, cũng tham gia vào cuộc chiến ấy, thì việc đó lại trở thành phạm tội.
Cũng như thời 1989, các phong trào quần chúng chiến đấu chống tham nhũng bị đàn áp thẳng tay. Những người dân bị ngược đãi và ức hiếp ở Trung Quốc không được nhận bồi thường theo luật pháp, dù qua hệ thống tòa án hay khiếu tố với chính quyền trung ương. Quả thật, những người đã tố cáo tham nhũng thường bị đưa ra xét xử hoặc bỏ tù. Các giá trị phổ quát như minh bạch và trách nhiệm bị bôi nhọ là công cụ do những kẻ thù địch ở nước ngoài sử dụng để gây rối. Trong khi đó, quyền lực can thiệp vô hạn của đảng chỉ có tăng lên, vì nó đã chiếm dụng những khái niệm như pháp quyền, công nghệ và toàn cầu hoá.
Liệu nhà nước- đảng trị có thực tâm chống tham nhũng, thậm chí đến mức mạo hiểm cả sự tồn vong của đảng? Như nhiều người từng nói, điều này thì chỉ có giới lãnh đạo chóp bu mới biết được.
Tôi muốn nói hai điều. Thứ nhất, chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục đi theo con đường mà Đặng Tiểu Bình đã vạch ra, nó sẽ không giải quyết triệt để được nạn tham nhũng. "Đả hổ diệt ruồi" không phải là phương thuốc cứu chữa từ gốc đến ngọn; thậm chí còn không giảm nhẹ được những triệu chứng nặng nhất. Hổ còn ngao du khắp chốn, và ruồi còn che kín mặt trời: có thể tấn công cả trăm, hoặc cả ngàn trong số chúng, nhưng điều đó sẽ không thay đổi được bản chất của con đường tham nhũng. Nhưng tôi vẫn lạc quan, vì nếu giới lãnh đạo Trung Quốc quyết tâm từ bỏ con đường Đặng Tiểu Bình, thì vẫn có hy vọng.
Thứ hai, lại đến mốc tưởng niệm sự kiện mùng 4 tháng Sáu. Nhiều người đang mong chờ các nhà lãnh đạo của đảng tự nguyện thừa nhận sự bất công và phạm pháp của việc giết chóc. Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, vì đến tận giờ, không có nhiều dấu hiệu cho thấy điều này sẽ xảy ra. Liệu một ngày nào đó điều ấy có thể xảy ra hay không trong tương lai, thì tôi chịu không nói được.

Bào Đồng/ Bùi Xuân Bách và Nguyệt Cầm

NguồnNew York Times 3.6.2015 


Sunday, 1 March 2015

Tư toàn của Tập Cẩm Bình bất khả thi




Hồ Hải


Ông Tập Cận Bình và tấm áp phích quảng cáo về Giấc Mộng Trung Hoa - Ảnh của AFP.

Bài đọc liên quan:

Từ lý thuyết Tam Cương của Khổng Khâu, mấy ngàn năn trước Trung Hoa đã được thống nhất 2 lần: Nhà Hán và nhà Tần. Nền Cộng hòa non trẻ được Tôn Dật Tiên đặt nền móng sau khi hạ bệ hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, khi mà đất nước Trung Hoa bị chia cắt do phương Tây. 

Lần thứ 3 Trung Hoa được thống nhất trở lại gần đây 1949, là do Mao. Nhưng Mao đã phá hủy nền Cộng hòa non trẻ mà Tôn Dật Tiên đã xây dựng sau khi hạ bệ nhà Thanh, để mang Trung Hoa trở lại chế độ phong kiến xưa cũ dưới hình thức cộng sản mang màu sắc Trung Hoa.

Hoàn cảnh chính trị Trung Hoa hiện nay cũng giống như Pháp vào thế kỷ XVIII, khi Nã Phá Luân kéo nước Pháp trở lại nền quân chủ chuyên chế sau khi nền Cộng hòa non trẻ ra đời năm 1789.

Quy luật của triết học đã khẳng định: "kinh tế quyết định chính trị, và chính trị sẽ tác động đến kinh tế". Một nền chính trị đơn nguyên tập quyền như Trung Hoa chỉ là chiếc áo chật khoát trên mình của một gả khổng lồ về kinh tế. 

Vì thế cho nên cách đây 2 năm ông Lý Khắc Cường - thủ tướng Trung Hoa đã đưa ra Chiến lược kinh tế - Likonomics. Likonomics gồm 3 mục tiêu - Không kích thích kinh tế - No stimulus; Giảm nợ - Deleveraging; và Cải cách cơ cấu - Structural Reform. 

Theo tổng kết của World Bank năm 2013 nợ công của Trung Hoa chiếm 121% GDP, nhưng chỉ 1 năm sau, vào cuối 2014, thì khối nợ công này tăng thêm hơn gấp đôi tương đương với 282% GDP Trung Hoa. 

Từ thời loài người có mặt trên trái đất, và biết sống thành cộng đồng đến nay, các hình thái chính trị xã hội loài người thi nhau ra đời. Từ đơn nguyên tập quyền, đến đa nguyên tập quyền, rồi đa nguyên tản quyền, chưa có hình thái xã hội nào tiêu diệt được tham nhũng cường quyền, mà chỉ có đa nguyên tản quyền làm giảm thiểu tối đa tham nhũng cường quyền mà thôi.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền là mảnh đất màu mỡ nhất để nuôi dưỡng tham nhũng cường quyền. Theo Business Insider, chỉ trong 2 năm đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình đã làm cho các quan tham tuồn ra khỏi Trung Hoa đến 1250 tỷ đô la để tìm quê hương mới.

Với những con số trên, sau 2 năm hoạt động Likonomics xem như phá sản, không thể kéo kinh tế Trung Hoa đang đi xuống chưa thấy đáy như tôi đã tiên liệu 2 năm trước trong bài Likonomic tiến thoái lưỡng nan.

Trung Hoa đang chuẩn bị cuộc họp quốc hội để đưa ra chính sách và pháp luật mới cho thời kỳ mới, trong lúc kinh tế lẫn chính trị Trung Hoa đang rối ren. Cách đây 3 hôm, ngày 25/02/2015, Nhân dân nhật báo Trung Hoa giới thiệu một bài xã luận trên trang nhất 2000 chữ, về chiến lược chính trị của ông Tập Cận Bình - Tứ Toàn: Four Comprehensives - nhằm nâng đở kinh tế đang trên đà thất bại của Chiến lược kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường. 

Tứ toàn là gì? Nó có nghĩa là bốn cải cách toàn diện về kinh tế chính trị để nhằm khôi phục kinh tế Trung Hoa. Bốn toàn diện đó là: Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện; Cải cách sâu sắc toàn diện; Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện; Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện, nhằm thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" như lời ông Tập khi đọc diễn văn nhậm chức.

Tất cả những cái gọi là Tứ Toàn của ông Tập đều là những câu khẩu hiệu có tính tuyên truyền hơn là hiện thực. Còn nhớ cách đây gần 20 năm, khi ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ đã từng tuyên bố, nếu chủ tịch Giang Trạch Dân tham nhũng thì ông cũng bắt bỏ tù. Nhưng ông Chu Dung Cơ cũng chỉ ngồi ghế hành pháp của mình chỉ đúng một nhiệm kỳ từ 1998 đến 2003, là về vườn, giờ chỉ ngồi làm thơ dạy đời nói bóng gió, tham nhũng ở Trung Hoa ngày càng tăng.

Gần đây lại có thông tin các tham quan đang đoàn kết lại, đặt mua súng trường bắn tỉa để thủ tiêu ông Tập. Vấn đề thủ tiêu ông Tập không phải là dễ dàng. Nó cũng giống như chuyện ông Tập không thể diệt được tham nhũng ở một nền chính trị đơn nguyên tập quyền.

Không thể có một nền tư pháp đúng nghĩa trong một nền chính trị đơn nguyên tập quyền, vì không thể có tam quyền phân lập, nên cái tam toàn của ông Tập - Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện - là hoàn toàn phá sản khi nó vừa thoát ra khỏi cửa miệng của ông. Chỉ mới đây thôi, ngày 26/02/2015, Tân Hoa Xã đã đưa tin Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa khuyến cáo các nhà tư pháp cao cấp Trung Hoa hãy tránh xa mô hình tư pháp độc lập, thì làm gì có pháp luật ở Trung Hoa?

Cái tứ toàn - Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện - cũng phá sản khi chưa ráo mực 2000 chữ trên tờ Nhân dân nhật báo Trung Hoa, khi quyền quản lý ấy lại thuộc về đảng cầm quyền. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản ở Trung Hoa là đảng độc nhất nắm mọi quyền quản lý và cái trị thì lấy cái gì để quản lý lại đảng cộng sản ở Trung Hoa?

Nhất toàn - Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện - chỉ là ý tưởng của ông Hồ Cẩm Đào, xã hội văn minh hài hòa. Điều này thì có thể, nhưng cũng chỉ như hiện nay. Nó chỉ dành cho tham quan và chính khách, người dân Trung Hoa không thể có quyền sống, đừng nói đến quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhị tòan - Cải cách toàn diện sâu sắc - chẳng khác nào là một câu chém gió của thế giới ảo internet. Cải cách cái gì, nếu không là đa nguyên tản quyền cho nền chính trị Trung Hoa? Từ 1949 đến nay, nền chính trị Trung Hoa vẫn là đa nguyên, nhưng giả hiệu, vì các đảng phái khác chỉ để làm kiểng, và cũng do đảng viên cộng sản ở Trung Hoa nắm và hoạt động theo cương lĩnh và nghị quyết của đảng cộng sản.

Tóm lại, tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi, nếu Trung Hoa không chuyển mô hình chính trị từ đơn nguyên tập quyền sang đa nguyên tản quyền.

Asia Clinic, 15h47' ngày thứ Bảy, 28/02/2015



Tuesday, 3 February 2015

Sức mạnh mềm của Trung Cộng







Vụ thành lập Viện Khổng Tử ở đại học Hà Nội được nhiều người coi là một bước trong cuộc tấn công của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trên toàn thế giới bằng “Sức mạnh mềm” (Soft Power). Nhưng thật sự trong thế kỷ 21 này Trung Cộng có sức mạnh mềm nào có thể dùng, ít nhất để cạnh tranh với các nước khác hay không?

Sức Mạnh Mềm cũng giống như những cô ca sĩ trẻ đẹp lại hát hay. Không cần dùng tiền bạc mua chuộc, không cần dọa nạt, cưỡng bức, nhưng người ta vẫn mê, vẫn muốn hát theo, và vẫn muốn bỏ tiền mua vé đi nghe hát. Các đế quốc mạnh về quân sự hay về kinh tế mà thiếu Sức Mạnh Mềm thì không bền, không để lại ảnh hưởng nào lâu dài. Ngược lại, những nền văn minh có Sức Mạnh Mềm thì tràn lan khắp thế giới.

Trung Cộng đang sử dụng hai thứ sức mạnh “cứng” để bành trướng ảnh hưởng. Thứ nhất là tiền, gây hiệu quả dễ trông thấy nhất. Thứ hai là quân đội. Nhờ sức mạnh đồng tiền, Trung Cộng đang gây ảnh hưởng trên các nước nghèo để được ủng hộ trên trường ngoại giao.

Cộng Sản Trung Quốc tập trung tài sản và lợi tức của hơn một tỷ người dân lại, dành cho một nhóm người độc quyền sử dụng. Họ tung tiền ra mua các thứ tài nguyên tại châu Phi, châu Mỹ La tinh, dùng thương mại gây ảnh hưởng chính trị. Trong tay sẵn có đồng tiền, họ hối lộ các quan chức những nước nghèo; nhưng có khi cũng không hiệu quả, như vụ dự án thủy điện Myitsone bị chính quyền quân phiệt Miến Điện chấm dứt nửa chừng. Các công ty Trung Cộng đang cố bước vào thị trường quốc tế. Tuy nhiên sau gần 30 năm họ vẫn chưa tạo được một thương hiệu nổi bật nào trong thị trường cạnh tranh toàn cầu, như Gucci của Ý, Nokia của Phần Lan hay Hyundai, Samsung của Nam Hàn.

Còn lực lượng quân sự của Trung Cộng thì vẫn còn yếu. Chỉ nói riêng trong vùng Á Đông, nửa thế kỷ nữa chưa chắc Trung Cộng có thể so sánh với hải quân Mỹ, Nhật, chưa kể các nước đồng minh của hai nước này. Ngày Thứ Năm, 29 Tháng Giêng 2015, bộ trưởng quốc phòng Philippines và Nhật Bản, ông Voltaire Tuvera Gazmin và Tướng Nakatani, đã ký kết bản ghi nhận về hợp tác quân sự giữa hai nước. Cùng lúc đó, Đô Đốc Robert Thomas lên tiếng ủng hộ việc chính phủ Nhật sẽ cho máy bay thám thính xuống vùng Biển Đông Nam Á. Đô Đốc Robert Thomas cũng chỉ trích “Đường Chín Đoạn” của Trung Cộng, là hoàn toàn trái luật. Lời tuyên bố này có trọng lượng vì ông Thomas là chỉ huy Hạm Đội Số Bảy của Mỹ. Hạm đội này có 40,000 thủy thủ trên 80 chiếc tàu thủy chạy chung quanh mẫu hạm USS George Washington, với khả năng phóng lên 140 máy bay chiến đấu.

So với hạm đội đó thì chiếc mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Cộng, với khả năng phóng 36 chiếc máy bay, và chưa hề có một hạm đội đi kèm, có thể làm một chiếc tàu huấn luyện, chứ chưa thể chiến đấu. Lực lượng quân sự của Trung Cộng chỉ vừa đủ mạnh để dọa các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, và mấy anh nhát gan khác trong Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.

Còn Sức Mạnh Mềm thì sao? Viện Khổng Tử có giúp thêm sức mạnh cho Trung Cộng bành trướng hay không? Có thể trả lời ngay là Không! Zero! Nada! Nyet! Nein!

Thực ra thì các hoàng đế Trung Hoa đã sử dụng Khổng Tử như một sức mạnh mềm trong hơn hai ngàn năm, từ hai thế kỷ trước Công Nguyên. Nhưng ngay trong thời gian đó, Khổng Tử cũng chỉ là một trong nhiều “mũi dùi xâm lấn” của các đế quốc Đại Hán, Đại Đường. Khí cụ mạnh nhất của họ là chữ viết, thứ sức mạnh mềm này được sử dụng hữu hiệu nhất. Tần Thủy Hoàng đã tiêu chuẩn hóa thứ chữ viết này, giúp cho đế quốc Trung Hoa vừa có một phương tiện thống nhất hữu hiệu vừa là khí cụ đồng hóa các sắc dân khác. Lục địa Trung Hoa đã trở thành “nước Tàu,” dân các vùng Sở, Việt, Ngô, Mân, … đã trở thành “người Tàu” mãi mãi, là nhờ chữ Hán.

Chữ Hán có thể dùng để viết bao nhiêu tiếng nói khác nhau, cho nên các sắc dân khác vừa học nó, vừa cảm ơn. Đó là một sức hấp dẫn mãnh liệt, đúng là một “sức mạnh mềm” vô song! Chữ Hy Lạp, chữ La Tinh đã được truyền bá rộng không khác gì chữ Hán, nhưng sau mấy thế kỷ thì dân các nước chung quanh cũng quên, vì họ không thể đọc chữ La Tinh hay chữ Hy Lạp mà thành tiếng nói của họ được. Ngược lại, dân Mân ở Phúc Kiến, dân Ngô ở Thượng Hải, dân “Việt” ở Quảng Đông vẫn dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Thế là họ tự biến thành “người Tàu!”

Người Nhật Bản, Hàn Quốc cũng học chữ Hán như người Việt Nam. Ngày nay Nhật vẫn còn dùng nhiều chữ Hán khi viết báo; một nửa tiếng Nhật là “gốc Hán” mà nhiều người Nhật tưởng là tiếng nước họ. Trong cuốn tiểu thuyết A Tale for The Time Being của Ruth Ozeki, một cô gái Nhật Bản nghe bài Bát Nhã Tâm Kinh, mà không biết người ta đang tụng chữ Hán. Câu kinh được phiên âm sang tiếng Anh là “Shiku fu i ku, ku fu i shiku;” mà người Việt nào đã đi chùa có thể đoán ra, đó là câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Người mình nghe biết đó là chữ Hán Việt. Nhưng nhân vật Nao của Ozeki lại nghĩ đó là tiếng Nhật. Nao nghĩ đây là tiếng cổ nên cô không hiểu! Một sức mạnh mềm của đế quốc Trung Hoa là Chữ Hán. Người Nhật và người Hàn quốc không bị đồng hóa, mặc dù trong tiếng nói của họ dùng đầy chữ Hán. Vì hai sắc dân này nói những ngôn ngữ đa âm, không có thanh điệu, khác hẳn chữ Hán, kể cả văn phạm.

Dân Việt Nam phải khó khăn hơn mới thoát nạn đồng hóa, không những vì 1000 năm đô hộ, mà còn vì ngôn ngữ dân mình cũng đơn âm và cũng có thanh điệu không khác gì tiếng Mân, tiếng Ngô, giống như tiếng Tàu! Nhớ lại như vậy, để cảm nhận được sức quật cường của tổ tiên chúng ta!

Nếu suốt hai ngàn năm trước dân Việt đã không bị đồng hóa, thì ngày nay chúng ta khỏi lo sẽ biến thành người Trung Quốc! Không lẽ tổ tiên mình anh dũng như thế lại đẻ ra một lũ con cháu hèn yếu, nhu nhược đến nỗi mất giống! Hơn nữa, ngày nay Cộng Sản Trung Quốc không còn sức mạnh mềm nào như 2000 năm trước!

Trong nửa sau thế kỷ 20, Bắc Kinh đã sử dụng một sức mạnh mềm khi muốn chinh phục thế giới. Đó là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, qua cách diễn giải của Mao Trạch Đông. Quả thực, nó có sức mạnh và nó đã thành công. Cộng Sản Việt Nam đã ghi Tư Tưởng Mao Trạch Đông vào cương lĩnh. Đã thi hành các chính sách do Mao Trạch Đông đề ra, từ Chỉnh Huấn, Lao Động Cải Tạo, đến Cải Cách Ruộng Đất. Nếu không vì mắc chiến tranh thì chắc chắn cũng nhập cảng đủ các món Công xã Nhân dân, Cách mạng Văn hóa, vân vân. Việt Cộng đã tình nguyện làm tay chân cho cuộc bành trướng của đế quốc Trung Cộng.

Cho đến khi Trung Cộng giã từ chính sách và tư tưởng Mao Trạch Đông thì Việt Cộng cũng chưa dám bỏ. Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu vẫn còn sang bên Tàu xin được che dưới cái dù một tổ chức “Quốc Tế Mới.” Trung Cộng gạt đi vì họ ngu gì mà lập ra một “Quốc Tế Mới” để bị cả thế giới nghi ngờ, trong lúc chính họ cũng chỉ muốn tỏ ra mình thành tâm thay đổi, chỉ mong được bán hàng rẻ tiền cho Mỹ lấy đô la và được tư bản Đài Loan, Hương Cảng bỏ vốn vào làm ăn!

Nhưng trong thế kỷ 21 này, Trung Cộng có sức mạnh mềm nào chăng? Chắc chắn không phải là Viện Khổng Tử. Chắc chắn ông Khổng Tử không thể giúp tạo thêm uy thế cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc, vì chính họ Mao đã từng đem ông ta ra tố khổ. Có lúc thành phố Bắc Kinh đã dựng một cái tượng Khổng Tử ở Thiên An Môn, qua một tháng đã lẳng lặng đem đi đâu mất, không kèn không trống! Những quy tắc tu thân và xử thế của Khổng Tử còn nhiều điều có thể áp dụng, nhưng nếu ai học theo thì cũng không làm tăng uy tín của người Tàu. Vì truyền thống luân lý khắp nơi đều cũng dậy những quy tắc tương tự. Trong khi người Trung Hoa bây giờ có mấy người giữ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đâu?

Muốn biết nước nào có sức mạnh mềm, phải đặt những câu hỏi. Thí dụ: Nước nào xuất bản nhiều sách, báo, làm nhiều phim ảnh được dịch ra các ngôn ngữ khác và nhiều người muốn đọc, nhiều người muốn coi nhất? Nước nào tạo ra nhiều sản phẩm mới, có nhiều bằng sáng chế, phát minh mà nước khác chịu thua? Tiếng nói nào được nhiều người ngoại quốc học nhất? Thời trang ở nước nào được thế giới theo dõi và bắt chước nhiều nhất? Khi người dân một nước muốn thay đổi thể chế chính trị thì họ muốn nghiên cứu và mô phỏng thể chế của nước nào nhiều hơn cả? Thanh niên khắp thế giới muốn được vào đại học nước nào nhiều, nước nào ít? Nước nào thu hút nhiều di dân, nước nào không ai muốn đến xin cư ngụ?

Trả lời những câu hỏi trên rồi, chúng ta thấy trong cuộc cạnh tranh sức mạnh mềm trên thế giới bây giờ, Trung Cộng thua tất cả các nước lớn, từ Châu Á, Châu Âu, nhất là thua nước Mỹ. Khắp thế giới người ta thích coi phim bộ Nam Hàn, trẻ em thích hoạt họa và các trò chơi Nhật Bản, phụ nữ thích thời trang Ý, Pháp, và gần một nửa loài người đang muốn lên Facebook, vào google. Không thể dùng một đạo quân nào đi chinh phục thế giới rồi bắt người ta dùng Microsoft hay Apple. Không thể mua chuộc người ta để họ coi phim Avatar hay nghe dàn nhạc giao hưởng Berlin. Đó là những biểu hiện của sức mạnh mềm. Nước Trung Hoa hiện nay không có gì để thu hút được lòng ngưỡng mộ của loài người, trừ sức chịu đựng. Họ đã nằm dưới một chế độ độc tài hơn nửa thế kỷ rồi mà vẫn cúi đầu nhịn nhục, giỏi thật! Nhưng có dân tộc nào muốn noi theo tấm gương nhẫn nhục đó chăng?

Chỉ có tại nước Việt Nam thì Trung Cộng mới thi thố được những “sức mạnh mềm” đặc biệt của họ. Thí dụ, Cục Thú Y Việt Nam mới cho biết, các loại gà, vịt ở Phú Thọ, Bắc Giang, vào tới Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi có dấu hiệu chứa loại vi rút gây bệnh cúm A/H5N6. Mà các vi rút này rất giống, giống đến 99%, các vi rút của bệnh cúm H5N6 trong tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Làm sao gà, vịt Tứ Xuyên đem vi rút sang tới nước mình? Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bỏ ngỏ biên giới từ bao giờ! Năm 1950 giống vi rút MAO đã tràn qua tàn hại dân Việt, chết đến mấy triệu người. Bây giờ tới lượt vi rút H5N6!


Ngô Nhân Dụng- Người Việt




Wednesday, 28 January 2015

2 lý do "Giấc mơ Trung Hoa" có thể thành ác mộng vào năm 2016






Cuối những năm 1990, Chủ tịch nước Trung Quốc khi đó là Giang Trạch Dân thường nhắc đến một "thời cơ chiến lược" kéo dài 20 năm, mà trong đó Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế và "nhường" vai trò cường quốc cầm trịch cho Mỹ.

Trong thời kỳ này, Trung Quốc ẩn mình và nhìn chung không nắm giữ trách nhiệm lãnh đạo trên trường quốc tế. Họ tạo dựng hình ảnh là một nước nghèo đang phát triển, lấy cớ tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ để tránh nhiệm vụ ngoại giao bên ngoài lãnh thổ.

Đến nay, cái "thời cơ chiến lược" này đã đi được 3/4 chặng đường. Và theo chuyên gia Kerry Brown, có nhiều lý do để tin rằng thời đại này của Trung Quốc đã khép lại.

Sâu đã thoát khỏi kén

Xét về cả kinh tế lẫn địa chính trị, Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình đang mang nhiều phong thái của một cường quốc.

Với những tuyên bố về một "hình mẫu mới" trong quan hệ cường quốc Trung - Mỹ, hay mới đây là "Con đường tơ lụa" kết nối toàn cầu, có thể thấy Trung Quốc ngày nay đã sẵn sàng trở thành tâm điểm của sự chú ý trên trường quốc tế.

Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình khác xa với Trung Quốc dưới thời Giang Trạch Dân. Ảnh: Tân Hoa Xã.

Theo ông Brown, một Trung Quốc ẩn mình và tập trung vào các vấn đề nội bộ nay đã được thay thế bởi một Trung Quốc mới, một Trung Quốc chủ động tranh giành vị trí lãnh đạo trên trường quốc tế, một Trung Quốc muốn các nước khác phải lắng nghe mình.

Brown cho rằng Trung Quốc hiện đang ở một vị trí thuận lợi để tiếp tục tranh giành ảnh hưởng trên trường quốc tế và đẩy mạnh vị thế cường quốc, đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc nên tận dụng tối đa thời cơ này vì thời thế sẽ thay đổi rất nhanh chỉ trong năm tới

Khi đó, một số chuyển biến mang tính quyết định nhiều khả năng sẽ biến "Giấc mơ Trung Hoa" của ông Tập Cận Bình trở thành "ác mộng".

Nhà Trắng đổi chủ

Theo đánh giá của ông Brown, trong hơn 6 năm đương nhiệm,Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tỏ ra tương đối "hiền" với Trung Quốc.

Dù không ít lần tuyên bố "xoay trục" và cân bằng cán cân quyền lực tại châu Á, ông Obama chưa bao giờ được phía Trung Quốc coi trọng, thể hiện rõ nét qua cách đối xử chẳng lấy gì làm trọng thị của nước chủ nhà trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đến Bắc Kinh năm 2009.

Nhiệm kì của ông Obama đã chứng kiến sự nổi lên của một Trung Quốc quyết đoán đến mức huênh hoang, một Trung Quốc luôn tự cho mình quyền được đưa ra quyết định, ít nhất là trong khu vực.

Việc kí kết hiệp định chống biến đổi khí hậu với Trung Quốc vào năm ngoái có thể được coi là một thành công của Tổng thống Obama, một nước đi có thể sẽ đem lại nhiều lợi ích trong tương lai.
Tuy nhiên, trong suy nghĩ của đa số giới làm chính trị ở Bắc Kinh cũng như Washington, ông chủ Nhà Trắng luôn bị coi là yếu thế trong ngoại giao với Trung Quốc.

Nhưng người chủ mới của Nhà Trắng chắc chắn sẽ không "dễ dãi" với Trung Quốc như vậy.

Dù chưa chính thức tuyên bố tranh cử, nhưng giới phân tích đánh giá cao khả năng đắc cử Tổng thống của bà Hillary Clinton. Trong mắt chính quyền Trung Quốc, phu nhân cựu Tổng thống Bill Clinton là một người hoàn toàn khác với nhà lãnh đạo Washington hiện tại.

Từ hội nghị Liên hiệp quốc về quyền phụ nữ tại Bắc Kinh vào năm 1995 đến những chuyến thăm Trung Quốc với tư cách Ngoại trưởng Mỹ, bà Clinton đã xây dựng hình ảnh một nữ lãnh đạo cứng rắn và đầy tham vọng trong mắt giới chức và truyền thông Trung Hoa.



Bà Hillary Clinton nhiều khả năng sẽ có những chính sách đối ngoại cứng rắn hơn với Trung Quốc. Ảnh: Getty Images.

Theo ông Brown, giới chức Trung Quốc ngay từ bây giờ nên bắt đầu tính đến những thay đổi trong chính sách ngoại giao của một Nhà Trắng dưới thời bà Clinton, những sự thay đổi với tham vọng khẳng định vị thế số một của Mỹ trên trường quốc tế.

Bất ổn cận kề

Cũng trong năm 2016, Đài Loan sẽ tiến hành bầu cử tìm người lãnh đạo mới. Tương tự như Tổng thống Obama tại Mỹ, người đương nhiệm Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng (KMT) luôn được đánh giá là một "đồng minh" tốt của Bắc Kinh.

Trong gần 7 năm qua, ông Mã đã tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế và nhấn mạnh sự cẩn trọng trong chính trị với đại lục, qua đó giảm đáng kể căng thẳng giữa hai bờ eo biển, khác xa với những gì đã diễn ra trong 8 năm trước đó dưới thời Trần Thủy Biển.

Tuy nhiên, chính sách này cũng khiến ông Mã không được người dân Đài Loan đánh giá cao. Tỉ lệ ủng hộ ông đang ở mức thấp nhất trong lịch sử các nhà lãnh đạo Đài Loan.



Tỉ lệ ủng hộ của người dân Đài Loan dành cho ông Mã Anh Cửu đang ở mức thấp nhất trong lịch sử. Ảnh: AP

Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) được đánh giá là sẽ chiếm ưu thế trong cuộc bầu cử năm 2016. Và theo ông Brown, các chính sách của DPP đối với chính quyền đại lục sẽ cứng rắn hơn nhiều so với những gì ông Mã và KMT đã thể hiện trong những năm gần đây.

Chỉ trong một vài tháng năm 2016, hai đối tác quan trọng của Bắc Kinh sẽ thay lãnh đạo. Theo ông Brown, những chuyển biến này nhiều khả năng sẽ mang lại một môi trường mang nặng tính đối đầu và nhiều va chạm hơn với Trung Quốc.

Và nếu không tận dụng tối đa khoảng thời gian 18 tháng sắp tới, khi mà mọi thứ đang diễn ra theo hướng có lợi cho mình, "Giấc mơ Trung Hoa" nhiều khả năng sẽ trở thành khơi nguồn của một "ác mộng" cho ông Tập Cận Bình và Trung Quốc.

Theo: sohanew



Wednesday, 14 January 2015

Thoát Trung Luận






Hồi tháng 6/2014, tôi tiếp xúc với 1 chuyên gia kinh tế đáng kính. Tôi cho rằng ở Việt Nam bây giờ chỉ có người này là đáng kinh và có trình độ thực sự. Nói chuyện với nhau cả tiếng đồng hồ, và cũng bàn quanh chuyện làm sao để GO WEST Foundation thực hiện được nhiệm vụ của nó? 

Chuyên gia kinh tế này giờ đã lớn tuổi, nhưng mỗi ngày làm việc từ 18 - 20 giờ đồng hồ, chỉ vì thực hiện nổ lực cho một đề tài lớn: "Làm sao để thoát sự lệ thuộc kinh tế Trung Hoa?". Vấn nạn Việt nam hôm nay là nguy cơ mất nước từ vấn nạn lệ thuộc Trung Hoa.

Theo tôi, không phải lãnh đạo Việt Nam không biết, không hiểu những gì nền kinh tế chính trị Việt đang yếu kém. Nhưng hiện tình Việt Nam đang bị mắc vào một cái bẫy lớn với Trung Hoa sau Hội nghị Thành Đô 1990 là: bị phụ thuộc cả chính trị và kinh tế. Để thoát ra khỏi sự phụ thuộc này là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nổ lực của cả dân tộc và của cả đảng cầm quyền hiện nay. Vì sự phụ thuộc hiện nay đã hình thành từ 25 năm chứ không phải chỉ một ngày hay một tháng.

Sự lệ thuộc vào kinh tế Trung Hoa vì hàng giá rẻ không chỉ một vài nước bị như Việt Nam, mà ngay cả Hoa Kỳ cũng bị lún vào tình trạng này, nếu các bạn có đi Hoa Kỳ và vào những siêu thị lớn và nhỏ như Costco hay Walmart etc, các bạn sẽ thấy tràn ngập hàng tiêu dùng có nhãn Made in China, nhưng hàng có chất lượng tốt, mà giá cực rẻ.

Khác với Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Việt Nam có một biên giới dài ở phía Bắc giáp với Trung Hoa. Lại thêm hông sườn Tây có Lào và Cambodia yếu kém có thể ngã về Trung Hoa, khi Trung Hoa sử dụng chiêu bài kinh tế và văn hóa để chiêu dụ. Nên việc thoát Trung Hoa vô cùng khó khăn, nếu chính quyền Việt Nam không đoàn kết và đồng lòng.

Khó khăn nữa là, với chính quyền Việt Nam hiện nay là chưa có 1 lãnh tụ xứng tầm, để có đủ về cả uy tín và tài năng tập hợp lực lượng quanh mình nhằm làm việc Thoát Trung Hoa.

Việc Thoát Trung Hoa là việc cần làm cấp kỳ và ưu tiên số một. Trong tiến trình Thoát Trung Hoa có 2 vấn đề là Thoát kinh tế và Thoát chính trị. Kinh tế là chính trị, nên mới có môn kinh tế chính trị học là vậy. 

Về chính trị

25 năm sau hội nghị Thành Đô, bên Trung Hoa đơn nguyên tập quyền đi theo màu sắc Trung Hoa, thì Việt Nam cũng đơn nguyên tập quyền đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ khác nhau ngôn ngữ, chơi chữ với nhau, thực chất là rập khuôn Trung Hoa.

Rập khuôn chính trị đơn nguyên tập quyền chưa đủ, Việt Nam còn rập khuôn cả sở hữu công mà Trung Hoa đang sử dụng. Một đất nước muốn lớn mạnh cần phải giải phóng hết tiềm năng của con người. Muốn giải phóng được tiềm năng của con người thì phải có nền chính trị công nhận và khẳng định sở hữu riêng tư từ trí tuệ đến lao động giản đơn, và cả vật chất, của cải họ làm ra.

Tôi không thể làm lụng suốt đời để nua 1 mảnh đất, xây 1 căn nhà mà tôi chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền sở hữu nó. Trong khi đó, mảnh đất mà có căn nhà của tôi đã mua và xây dựng đó có thể bị chính sách bứng đi lúc nào cũng được, mà tôi không có quyền định đoạt. Tôi cũng không thể sáng kiến phát minh để rồi sáng kiến phát minh đó tôi không được bảo vệ về quyền lợi cho riêng mình.

Một nền chính trị đơn nguyên không có bộ lọc là miền đất cho độc tài và tham nhũng nảy mầm tốt. Rồi chính độc tài và tham nhũng sẽ là yếu tố làm phá tan luật pháp, suy yếu quốc gia. Họa mất nước dưới tay Trung Hoa cũng từ nền chính trị đơn nguyên tập quyền mà ra.

Một nền chính trị đơn nguyên có mặt hầu hết các ngành nghề tronhg xã hội, nhưng không thúc đẩy các ngành nghề mà phát triển, giải phóng sức lao động và sáng tạo, mà chỉ để rình mò người dân và xem dân là kẻ bị trị, thậm chí là thế lực thù địch, dù chỉ là tư duy cấp tiến và khai phóng.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền bóp chết nền giáo dục, thì không thể tạo ra nhân tài phục vụ cho đất nước. Một nền chính trị tốt là nền chính trị phải tạo ra một nền giáo dục tự chủ và khai phóng tư tưởng mới làm ra nhân tài và sáng tạo.

Một nền chính trị đơn nguyên đến giai đoạn thoái trào, nên đã đẻ ra một bộ máy cồng kềnh để bao vệ ngai vàng cho giai cấp cầm quyền. Nó ngốn tiền chính sách quá lớn, buộc phải đẻ ra chính sách để khoan sức dân bằng bao nhiêu thuế, phí đè lên người dân trong khi nền kinh tế đang suy thoái cũng vì chính trị yếu kém.

Muốn thoát Trung Hoa phải thoát ra khỏi nền chính trị đơn nguyên và tập quyền, để hình thành một thể chế giải phóng sức dân và tư liệu sản xuất có luật pháp nghiêm minh. Từ đó, mới có một quốc gia tự lực, tự cường như Hàn Quốc, Đài Loan đủ sức để sống bên cạnh Trung Hoa.

Về kinh tế

Nền chính trị đơn nguyên và sở hữu cong tư liệu sản xuất đã làm cho nền kinh tế ngày càng yếu kém. Do nền chính trị đơn nguyên đã làm phá vỡ quy luật cung cầu, và cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế thị trường. Sau 25 năm năm cởi trói, nền kinh tế Việt Nam sao y bản chính kinh tế Trung Hoa - bán tài nguyên và sức lao động để sống, cộng thêm lượng kiều hối của Việt kiều gửi về là chính.

Tăng trưởng kinh tế 25 năm sau cởi trói bản chất là nhờ vào đổi tài nguyên, môi trường và đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng. Bài học kinh tế này được sao y bản chính từ Trung Hoa thời Giang Trạch Dân. Hậu quả của nó hôm nay cả Trung Hoa và Việt Nam đang trong tình trạng nợ công vì đóng băng bất động sản. Nhưng Trung Hoa là một thị trường lớn 1,4 tỷ dân, có một nền công nghiệp phụ trợ vững mạnh, các đại học Trung Hoa được khai phóng hơn Việt Nam, nên bài toán của Trung Hoa dễ giải hơn Việt Nam.

Trong khi đó, Việt Nam thì công nghiệp phụ trợ cho đến nay là con số không tròn trĩnh. Vì không có sáng kinh và phát minh làm ra sản phẩm.

Sản xuất để xuất khẩu của Việt Nam chỉ là gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoại trừ những gì người nông dân và ngư dân làm ra.

Doanh nhân Việt Nam đa phần làm dịch vụ - cò mồi. Một số rất ít doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mang tính thủ công và công nghiệp nhẹ. Từ tư duy cò mồi đó, sản sinh ra một văn hóa doanh nhân Việt chỉ làm ăn chụp giật, ngắn hạn, lừa đảo, đến nỗi ngay cả những doanh nhân đang là quan lớn của đảng cầm quyền cũng làm ăn chụp giật và lừa đảo, mà tìm kiếm một doanh nghiệp có tính vững bền như tìm sao trên trời giữa ban ngày.

Muốn thoát Trung Hoa về kinh tế, nếu là doanh nghiệp thì không tiếp tay nhập lậu hàng dõm của Trung Hoa vào Việt Nam, mà phải xuất hàng Việt Nam sang Trung Hoa nhiều hơn nữa, và chọn lựa hàng tốt của Trung Hoa để nhập về.

Nhiệm vụ của doanh nghiệp còn có nhiệm vụ phải phát triển hệ thống công nghiệp phụ trợ, và sản xuất hàng tiêu dùng cho xã hội với chất lượng tốt.

Doanh nghiệp cần có văn hóa hợp tác với các đại học và viện nghiên cứu để tài trợ thúc đẩy khoa học kỹ thuật nước nhà phát triển đi đến tự lực các mặt hàng tiêu dùng trước mắt, và tương lai là khoa học công nghệ phát triển. Đỉnh cao của văn hóa doanh nhân là hiến tặng tài sản cho các trường đại học nghiên cứu, làm ra sáng tạo phục vụ cộng đồng, ở Việt Nam chưa bao giờ có. Ngay bây giờ phải cần tạo dựng, thay vì xây đền đài chùa chiền để buôn thần bán thánh, tư lợi.

Bên cạnh cải tạo doanh nghiệp, cần phải cho dân tiêu dùng cần chọn lọc hàng Trung Hoa mà dùng chứ đừng thấy rẻ mà lợi bất cập hại. Bản thân tôi đã từng dùng quần sooc sản xuất ở Trung Hoa, nhưng cùng 1 sản phẩm sản xuất ở Trung Hoa thì mua ở Việt Nam thì mặc bị dị ứng ngứa khắp người, trong khi đó, quần mua ở Hoa Kỳ cũng sản xuất ở Trung Hoa thì không bị dị ứng. Điều này cho thấy, không phải sản phẩm nào của Trung Hoa cũng xấu, mà xấu là do doanh nghiệp nhập hàng từ Trung Hoa không có đạo đức.

Cái nhìn Thoát Trung sau hội nghị trung ương 10 khóa XI

Tổng kết hội nghị trung ương đảng cầm quyền khóa XI hôm 12/01/2015 vừa qua, kết luận của tổng bí thư là, hội nghị thống nhất đổi mới chính trị, không phải thay đổi chế độ. Trong đó, bản chất của đảng và nhà nước cầm quyền là không thay đổi, đảng cầm quyền độc quyền thông tin truyền thông và quân đội.

Chế độ được định nghĩa là chỉnh thể chính trị, kinh tế, văn hoá hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định. Chế độ hiện nay là được hình thành do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam nội chiến sau bị đô hộ trăm năm của người Pháp.

Lịch sử thế giới và nước Việt từ khi có con người cho thấy rằng, dù là bất kỳ chế độ nào đi nữa, thì cũng phải vì quốc gia và dân tộc. Quốc gia dân tộc là trường tồn và vô hạn, chế độ là nhất thời và hữu hạn. Bảo vệ tổ quốc và dân tộc mới là mục tiêu chân chính của một chế độ, chứ không phải bảo vệ chế độ là mục tiêu tối hậu. Một đảng phải chỉ biết bảo vệ chế độ do đảng ấy lập ra thì chắc chắn đảng phái chính trị ấy sẽ mất lòng dân và sụ đổ.

Chế độ hiện tại là chế độ sao y bản chính từ Trung Hoa như đã trình bày, thế thì đổi mới chính trị là đổi mới cái gì? Không thay đổi chề độ thì làm sao thoát Trung Hoa, và làm sao để tự lực tự cường?

Chính trị là một nghệ thuật của sự có thể. Chính khách lưu danh sử sách là chính sách sử dụng nghệ thuật này hiệu quả nhất cho quốc gia và dân tộc, chứ không phải loại chính khách bảo vệ chế độ để phục vụ cho quyền lợi cá nhân và nhóm quyền lợi của đảng cầm quyền.


Hồ Hải




Bài mới đăng

Bài ngẫu nhiên