Powered By Blogger





Showing posts with label Ký sự Sài Gòn. Show all posts
Showing posts with label Ký sự Sài Gòn. Show all posts

Tuesday, 19 May 2015

Saigon : Cái tên của ngày hôm qua







Không biết từ bao giờ, trong phòng lưu niệm trên tầng chót của tháp Eiffel – Paris, đã có tên “Sài Gòn” trên bảng tên khoảng cách từ đây đến những thành phố lớn trên thế giới. Trong khi đó, tại đài thiên văn Greenwich, London – nằm ngay trên kinh tuyến gốc số 0, tên “Sài Gòn” được khắc trên bảng tọa độ các đô thị tiêu biểu cho các múi giờ. Tọa độ Sài Gòn là kinh tuyến Đông 106 độ – 43 phút. 

Sau năm 1975, nhiều bản đồ thế giới xuất bản ở nước ngoài có ghi tên địa điểm Ho Chi Minh city với hàng chữ chú thích: “formerly Saigon“ (nguyên là Sài Gòn). Thế nhưng, trong mắt nhiều người Việt và nước ngoài, tên Sài Gòn không chỉ là địa danh, không chỉ là hoài niệm xa vắng mà cao hơn nữa từ lâu rồi, đó còn là một địa chỉ quốc tế, một icon – biểu tượng – đầy sức sống kỳ lạ của Việt Nam qua nhiều thế kỷ thương đau.


Mở cửa 200 năm trước

Tôi tìm thấy tên Sài Gòn được người Anh viết là “Sai-gong” trong quyển A voyage to Cochinchina in the years 1792-1793 của John Barrow, in năm 1806, cách đây 209 năm! Có lẽ đây là quyển sách xưa nhất bằng tiếng Anh viết về Việt Nam và cũng là quyển sách nước ngoài xưa nhất nhắc đến tên Sài Gòn. Tác giả quyển sách là một nhà nghiên cứu Anh đã từ Batavia (Jakarta-Indonesia) cập bến Sài Gòn vào thời kỳ Nguyễn Ánh đang xây dựng kinh thành Gia Định trở thành hậu cứ lớn để tiến công Tây Sơn. John Barrow ghi nhận “Sai-gong” là nơi nhà vua xứ Đàng Trong đóng đô, hơn nữa còn là thương cảng nhộn nhịp tàu bè đến mua bán, nhất là xuất khẩu gạo. Mặc dầu còn mới mẻ nhưng Sài Gòn đã thay thế được Hội An và Quy Nhơn – hai cảng thị trở nên tiêu điều vì chiến tranh, để mở cửa Đàng Trong ra với bên ngoài. Rất đáng kể, Sài Gòn còn có xưởng đóng tàu theo kiểu Tây dương (châu Âu) và có quân cảng – hậu cứ của hải quân nhà Nguyễn. Khi tác giả có mặt tại “Sai-gong”, tại cảng đã có 7 thương thuyền của Bồ Đào Nha, một chiến hạm Pháp thuộc đội quân của Giám mục Bá Đa Lộc – người hỗ trợ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn và nhiều thương thuyền khác. Chính chiến hạm Pháp đã đưa Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đi cầu viện vua Napoleon đệ tam…

Và rồi, hơn 50 năm sau cuộc gặp gỡ Việt-Pháp đó, éo le thay, thực dân Pháp đã đến xâm lược Việt Nam vào năm 1858. Không hạ được Đà Nẵng để tiến chiếm kinh đô Huế, quân Pháp chuyển qua đánh Sài Gòn. Quân nhà Nguyễn gắng sức nhưng rồi thành Gia Định thất thủ ngày 17.2.1859. Cuộc chiếm đóng của người Pháp ở Sài Gòn và đất Nam kỳ sau đó không dễ dàng. Sau bốn năm bình định, đến ngày 15.6.1865, chính quyền Pháp mới chính thức ban hành sắc lệnh lập ra “Ville de Saigon ” – thành phố Sài Gòn. Từ đó, Sài Gòn chuyển qua một quỹ đạo văn minh mới.

Công nghiệp hóa sớm nhất

Người Pháp đã đem văn minh phương Tây đến Sài Gòn trộn với chất phương Đông sẵn có của nó để tạo ra một Sài Gòn mới mẻ và độc đáo. Rất thuận lợi, Sài Gòn đi vào công nghiệp hóa cùng thời những phát minh kỳ vĩ của loài người: xe lửa, máy bay, đèn điện, đường dây thép, điện ảnh… Sau 30 năm xây dựng, người Pháp đã cải biến Sài Gòn thành đô thị hiện đại đầu tiên ở Việt Nam sánh vai cùng nhiều đô thị châu Á đã phát triển trước đó như Singapore, Penang, Hồng Kông, Thượng Hải, Tokyo. Cho đến đầu thế kỷ 20, Sài Gòn đã có được hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và hoàn chỉnh: bưu điện, nhà máy điện, nhà máy nước, công nghiệp đóng tàu, đường nhựa, đường xe lửa, bến cảng và sân bay… Chính nhờ kinh nghiệm xây dựng Sài Gòn và ngay cả phương tiện và nhân lực của Sài Gòn mà người Pháp đã xây dựng tiếp “Hanoi ville”, “Tourane ville” (Đà Nẵng) và một loạt thành phố khác vẫn tồn tại ở Việt Nam.

Thời cơ và số phận đã bắt Sài Gòn đi trước trong công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Những nhà máy, công ty, chợ đầu mối, thương xá, ngân hàng, hãng xe đò, xe lửa đầu tiên của Việt Nam đều ra đời từ Sài Gòn. Cũng từ đây, hình thành nên những nghề nghiệp mới: thợ thuyền, kỹ sư, doanh nhân và ngay cả những ngành nghề mới: nhật trình (báo chí), tiểu thuyết, nhà in, nhà sách… Ngay cả về giáo dục, từ Sài Gòn đã “khai sinh” việc giảng dạy chữ quốc ngữ trong trường học và sử dụng chữ quốc ngữ trong công sở và báo chí. Cũng từ Sài Gòn, đã hình thành hệ thống tiểu học – trung học, trường dạy nghề, trường sư phạm, trường cấp tỉnh, trường cấp miền (chỉ riêng đại học, người Pháp mới lập ra trước nhất ở Hà Nội để tạo ra một đối trọng mạnh mẽ với nền giáo dục Nho học lâu đời).

Dòng sông ra biển lớn

Sông Sài Gòn là dòng sông lớn, dễ dàng ngược xuôi ra biển. Vựa lúa Nam bộ và hàng hóa cả nước theo sông Sài Gòn ra với thế giới. Những tuyến đường viễn dương lần lượt ra đời: Sài Gòn-Singapore-Marseille, Sài Gòn-Hongkong-Thượng Hải-Yokohama và xa hơn nữa đến San Francisco và New York. Chẳng mấy chốc, có thêm đường hàng không Sài Gòn-Paris nối châu Âu, Sài Gòn-Hongkong nối với Đông Bắc Á và Mỹ. Những tuyến đường biển đường không, báo chí và viễn thông xuất phát từ Sài Gòn đã mở rộng chân trời, mở rộng tầm nhìn không chỉ cho người Sài Gòn mà còn cho người Việt Nam, người Đông Dương ra với năm châu. Đầu thế kỷ 20, một thế hệ thanh niên mới được các sĩ phu yêu nước nhóm lửa đã mau chóng từ Sài Gòn “xuất dương”, tìm đến những đất nước tiên tiến cả Đông lẫn Tây để học hỏi, kiếm sống và khám phá những tư tưởng cách mạng.

Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn.

Cho đến trước 1945, Sài Gòn đã rõ nét là một trung tâm giao thương và hàng hải nhộn nhịp, một trung tâm công nghiệp lớn, nhất là sơ chế nông sản, có vị trí quan trọng. Nói như ngôn ngữ bây giờ, Sài Gòn là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng từ Á sang Âu và từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Sài Gòn còn là một thành phố mang phong vị Á-Âu, với gần 500 ngàn dân đến từ tứ xứ và nhiều châu lục. Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” của Đông Dương, nơi có dinh Toàn quyền, có các tòa lãnh sự và thương vụ của các cường quốc Anh, Mỹ, Nhật và nhiều nước khác. Khi chiến tranh Thái Bình Dương xảy ra năm 1941, người Nhật đã đặt đại bản doanh tại Sài Gòn để điều hành cuộc chiến Đông Nam Á. Sài Gòn đã hứng bom không quân Mỹ nhưng may mắn không bị nhiều tàn phá. Những diễn biến chiến tranh khốc liệt hơn 30 năm sau đó càng làm thế giới biết đến tên Sài Gòn không chỉ liên quan vận mệnh kinh tế mà còn là vận mệnh chính trị của cả Đông Dương và khu vực.

Yêu kiều giữa chiến tranh

Năm 1948, chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại và Pháp dựng lên, đặt thủ đô ở Sài Gòn. Lần đầu tiên trong lịch sử, Sài Gòn trở thành trung tâm đầu não về cả hành chính và quân sự cả nước cho một bên trong cuộc chiến. Kế đến năm 1955, Sài Gòn lại tiếp tục làm thủ đô cho miền đất từ vĩ tuyến 17 trở vào của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Trong nửa đầu thập niên 1950, phố xá Sài Gòn bắt đầu có biến đổi một ít so với thời kỳ trước 1945. Nhiều công sở trung ương, công sở ngoại giao, nhiều phố phường thương mại mọc lên. Sài Gòn bắt đầu có cấp quận. Người các tỉnh đổ về tỵ nạn chiến tranh và kiếm sống gia tăng làm thành phố từ 500 ngàn dân tăng lên gấp đôi, gấp ba. Nhiều khu ổ chuột, định cư tạm bợ ra đời: Bàn Cờ, Vườn Chuối, quận 4… Những con kênh lớn như kênh Tàu Hũ bị nhà dân lấn chiếm hai bên bờ. Thành phố phát triển trong chiến tranh, không giữ được quy hoạch cũ, mau chóng xộc xệch.

Từ 1955 đến 1965, Sài Gòn có mười năm yên bình để phục hồi lại vẻ yêu kiều trước chiến tranh. Song sau đó, mười năm kế tiếp từ lúc có những xáo trộn chính trị dồn dập, quân Mỹ đổ vào, cường độ chiến tranh gia tăng khốc liệt thì Sài Gòn bước qua một giai đoạn phát triển gấp gáp. Sài Gòn trở nên một thành phố có đủ sự lãng mạn, cái đẹp vốn có từ thời thuộc địa Pháp đến những dấu ấn mới tự do theo kiểu Mỹ. Cùng lúc đó, Sài Gòn lại phải mang vào những tác động thô bạo và tàn bạo của chiến tranh. Song cũng chính vào thời kỳ phát triển với nhiều mâu thuẫn như thế, Sài Gòn vẫn được thế giới biết đến như một thành phố có sức sống đa dạng, mạnh mẽ, năng động. Tất cả các hoạt động và thành tựu kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao lưu quốc tế của Sài Gòn, nhất là con người Sài Gòn, phong cách Sài Gòn có được từ 1865-1975, đã trở thành một tài sản quý giá không thể thiếu, một dấu ấn không thể bác bỏ khi lịch sử sang trang.

Sài Gòn với vốn liếng lịch sử hơn 100 năm đi ra biển lớn, hơn 100 năm đấu tranh và xây dựng đã trở thành một cái tên tự hào chung cho cả nước. Sài Gòn còn là một cái tên quốc tế đã thành danh, một thương hiệu được tin cậy trong và ngoài nước. Những thế hệ Việt Nam đương đại và sau này có hiểu biết được bề dày độc đáo của Sài Gòn mới có thể yêu Sài Gòn sâu hơn nữa. Và không thể không đồng thuận với những thế hệ trước về việc giữ gìn và tôn vinh những giá trị đẹp của Sài Gòn, từ những hàng cây cho đến những kiến trúc và cảnh quan độc đáo, từ những con người cá tính và đóng góp phong phú, từ những ý tưởng và cách nghĩ, cách làm phóng khoáng. Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn. Đừng để Sài Gòn trở thành một đô thị vắng tên trên bản đồ thế giới!

Tác Giả: Phúc Tiến 




Sunday, 12 April 2015

Hồi ức Việt Nam




saigon sau 75


Những hồi ức về Việt Nam, với tôi, là những hồi ức buồn.

Hơn hai mươi năm rời xa quê hương, mỗi khi giấc mơ Việt Nam trở về trong tôi, nó chỉ nhuốm toàn nỗi buồn, niềm lo sợ, đến mức nó có thể đánh thức tôi vào lúc nửa đêm. Rồi, tôi chỉ biết nằm thao thức, miên man suy nghĩ về những điều đã xa vẫn ám ảnh tôi như mới hôm nào.

Cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt khi tôi vừa chín tuổi. Sài Gòn khi ấy, tháng Tư 1975, náo loạn bởi tiếng bom rơi, tiếng đạn nổ chát chúa, trong sự hoảng loạn của một thành phố hoa lệ. Tôi không quên nổi hình ảnh mẹ tôi, một người đàn bà trẻ mới ngoài ba mươi, đang ôm đứa em gái đỏ hỏn vài tháng tuổi của tôi, ngồi khóc nức nở. Tôi không quên được hình ảnh bà nội tôi, già yếu tóc bạc trắng xóa, nắm lấy tay bố tôi, vừa van xin, vừa mắng mỏ bắt ông phải di tản khỏi Sài Gòn, bởi ông là sĩ quan của quân đội miền Nam. Tôi không quên nổi hình ảnh bố tôi, mắt tràn mi năn nỉ bà nội tôi cho ông ở lại vì ông không bỏ được gia đình và cha mẹ già ở quê nhà, khi lệnh di tản cuối cùng chỉ cho một mình ông được phép ra đi. Ông ngoại tôi, như chiếc bóng, ngồi lặng lẽ, bất động trong một góc tối trên ghế sofa. Đôi mắt ông nhìn xa xăm vào một góc nào đó khi bên tai văng vẳng tiếng nói từ trên chiếc radio kêu gọi buông súng đầu hàng.

Trong đêm hai mươi chín tháng Tư lịch sử đó, cả nhà tôi núp trốn trong một cái hầm cá nhân tại nhà. Cái đêm dài lịch sử ấy, tôi vẫn không quên được tiếng bom rơi, đạn nổ, tiếng khóc nức nở của mẹ, tiếng cầu nguyện của bà, tiếng còi báo động xé màn đêm, tiếng gầm rú của những chiếc máy bay phản lực trên bầu trời, rồi tiếng quạt gió xình xịch của những chiếc trực thăng vần vũ trên bầu trời, tiếng bánh xích của những chiếc xe tăng nghiến trên đường nhựa, nghe rào rạo…Tôi không thể nào nhận biết những tiếng đó từ phe ta hay phe Cộng. Tôi chỉ ngồi im lặng nghe lời đoán: quân ta, quân địch của hai ông anh của mình. Và rồi, có lúc tôi lại nghe tiếng thét hãi hùng của những người, có lẽ bị thương đâu đó…

Trong cơn hoảng loạn, tôi bừng hiểu: chiến tranh đã chạm đến Sài Gòn của tôi.

Mới chín tuổi đầu, tôi đã phải tiễn bố tôi lên đường vào trại cải tạo. Bố ôm từng đứa con nhỏ, an ủi, vỗ về, bảo “mấy con chóng ngoan, bố học tập chừng một tháng sẽ trở về phụ giúp mẹ, bà và bác nuôi dạy tụi con”. Bố vỗ vai người anh lớn của tôi, bảo ráng phụ giúp ông  bà, mẹ và bác dạy dỗ các em, làm gương tốt cho các em noi theo. Anh tôi, nước mắt ngần ngật, đong trên khóe mắt, gật đầu. Tôi biết rằng, ở lứa tuổi mười ba ấy, anh tôi chẳng hiểu nổi làm gương tốt là như thế nào để dạy cái đám em đang tuổi lớn, ăn như tằm ăn rỗi.

Mẹ tôi ngồi khóc lặng lẽ, ôm đứa em mới hai tháng tuổi, nhìn bất động vào khuôn mặt măng sữa kia. Bố tiến đến gần, chỉ biết ôm lấy vai mẹ, rồi đưa tay đỡ đứa bé, xiết chặt vào lòng. Đứa em tôi vẫn thiêm thiếp ngủ sau khi no sữa mẹ.  Trao em lại cho mẹ, bố quay đi, lầm lũi ra ngoài đầu xóm. Cả nhà tôi, lủi thủi đi theo bố trông như một đám tang buồn.

Một người lính bộ đội Bắc Việt cầm súng, nhìn bố tôi thúc giục, leo lên chiếc xe cam nhông bít bùng. Trên đó đã có những con người ngồi co ro, cúi mặt. Bố chỉ xách chiếc ba lô quân đội, trong đó chỉ gói ghém vài bộ đồ, những vật dụng cần thiết cho “một tháng học tập”. Bố lặng lẽ lên xe, không quay đầu lại. Chiếc xe lăn bánh khi tấm bạt phủ xuống. Cuộc đày ải bắt đầu!  Bố đi suốt mười năm biền biệt…

Làm sao tôi quên được!

Miền nam sau tháng Tư 1975 oằn mình thay đổi. Sài Gòn cũng rướm máu đổi thịt thay da. Tôi còn quá nhỏ để có thể làm một cuộc so sánh, dẫu chỉ mang tính ước lệ của cái thủ đô từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn đông” với thành phố Hồ Chí Minh, nơi tôi đang sinh sống. Chỉ biết một điều tôi không còn được nghe những bản nhạc mình yêu thích, không được đọc các truyện tranh dành cho trẻ con, không được mặc áo đầm đi học, không được mẹ cho tiền ăn sáng trước khi đến trường…Và còn nhiều “cái mất”, cũng như “cái không” xuất hiện sau khi miền Nam đổi chủ.

Những ngày sau đó, nếp sống náo nhiệt, năng động, ồn ào của một thành phố mệnh danh là thủ đô của miền nam, bất chợt đổi thay, bất chợt khép kín. Mọi người  ra đường lầm lũi, len lén nhìn nhau. Nỗi bất an, nỗi lo sợ đọng trong mắt từng người Sài Gòn. Những nét hào nhoáng của một thủ đô hoa lệ chợt biến đi để thay vào một thành phố ảm đạm, bất an. Những chiếc xe đạp ùa ra đường thay cho những chiếc xe hơi, xe gắn máy. Áo bà ba trở thành loại y phục thường ngày của người Sài Gòn, thay cho chiếc áo dài thướt tha, cổ điển, hay những chiếc quần tây ống loe, chiếc áo đầm hiện đại. Người Sài Gòn khép kín, ngơ ngác, vêu vao. Đường phố Sài Gòn vắng vẻ, đìu hiu, cam chịu.

Hồi ức của tôi về Việt Nam sau ngày thống nhất là những mất mát, những đau thương. Tôi đã chứng kiến những chiến dịch chống tư sản mại bản được phát động trong thành phố. Từng đoàn học sinh, sinh viên được khuyến khích tố cáo những đám người mà chính quyền kết tội là bọn tư bản lũng đoạn kinh tế nước nhà. Để chứng minh lòng yêu nước, lớp thanh thiếu niên mới phải tố cáo họ với chính quyền, cho dẫu những người đó là ông bà, cha mẹ, anh em hay là bạn bè, người thân.

Tôi đã thấy những người bạn tôi, vì rơi trong diện Tư Sản Mại Bản, mà bị đuổi khỏi căn nhà nơi họ sinh sống, bị phân biệt đối xử không chỉ ngoài xã hội mà cả trong học đường. Những cái chết tức tưởi vì bị cướp đất, cướp nhà. Những căn nhà bị đập nát, những đoàn người bị xua đuổi khỏi thành phố về các vùng nông thôn hẻo lánh. Để rồi vài tháng sau, họ, những những con người đó lại âm thầm trở về thành phố, gia nhập vào đám người ăn mày như những thây ma vất vưởng, sống lê la dưới gầm cầu, dưới mái hiên nhà, chỉ mơ một ngày trở lại căn nhà chôn nhau cắt rún mà nay đã thay tên đổi chủ.

Trong lớp học, tôi và các bạn tôi nói về những chuyến vượt biển nhiều hơn là những phương trình toán học. Chúng tôi  xì xào với nhau về những chuyến ra đi của bạn bè nhiều hơn là thảo luận Chủ Nghĩa Marxist, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tôi vui với nhau khi nghe chuyến vượt biên của một đứa bạn thành công, hoặc cầu nguyện cùng nhau khi nghe một đứa bạn mất tích trong chuyến hải hành của nó.  Lâu lâu, trong lớp tôi lại vắng bóng một đứa học trò mà không rõ ly’ do. Nhưng chỉ sau một tuần, chúng tôi có thể kết luận chắc như đinh đóng cột rằng: “Nó dã đi vượt biên rồi”. Rồi một tháng sau, cô giáo hay thầy giáo chúng tôi lại “buồn rầu”, “long trọng” báo tin cho đám học trò biết rằng: “Em X sẽ không đến lớp nữa.”  Đám học trò lại hùa nhau đồn thổi tin tức vượt biển thành công hay mất tích của đứa bạn. “Hôm nay còn đây, mai đã ra đi” trở thành một hiện tượng bình thường trong quãng đời học sinh của thế hệ chúng tôi.

Tin đồn thổi về những nạn nhân của Khờ me Đỏ bay đến tai chúng tôi ngày một nhiều, dẫu rằng chính quyền ra sức che giấu. Không một tờ báo chính thức nào của nhà nước thông báo tin người dân Việt Nam đang bị bọn Khơ-me đỏ giết hại tàn bạo bên kia bên giới. Xác chết thả trôi trên hồ Tông-Lê-Sáp, trôi theo dòng Cửu Long về đến Việt Nam.  Cho đến khi chiến tranh thật sự nổ ra ở dọc Tây Ninh, người dân mới giật mình hoảng sợ. Mùi tử khí của cuộc chiến hai mươi năm tương tàn chưa tan hết, lại đến cuộc chiến tranh giữa “những người đồng chí anh em quốc tế”.

Tôi không thể nào quên về một người bạn kể chuyện lúc anh làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Anh đã rưng rưng nước mắt khi kể về sự tàn ác của quân đội Khơ Me đỏ tàn sát dân Khơ Me cũng như dân Việt mà anh chứng kiến.  Chúng tôi cùng sùi sụt theo lời kể của anh. Để rồi vài tháng sau, chúng tôi lại nhận tin anh hi sinh trên chiến trường Cam Bốt. Chúng tôi đã reo vui khi nghe Campuchia giải phóng, rồi lại  nhức nhối khi nghe tin bạn mình đã bỏ mình trên đất bạn.

Những ai vào tuổi tôi, có lẽ sẽ chẳng quên về Sài Gòn với những ngày sôi động vào chiến dịch đổi tiền. Đồng tiền ngày hôm qua có thể mua được một chiếc xe Honda, ngày hôm sau không mua nổi một bó rau lang, rau muống. Thứ chiến dịch ăn cướp đó đã đẩy biết bao người lao đầu qua thành cửa sổ, chết tức tưởi vì của cải mình gom góp hàng chục năm, trong một đêm đã tan tành mây khói. Nhưng chính nhờ nó, qua bàn tay ảo thuật của những kẻ đẻ ra nền kinh tế đổi tiền đó, lại trôi vào trong túi của những người nắm giữ chức danh, quyền thế. Chỉ trong một đêm, hắn đang là một anh bộ đội chân mang dép râu, đầu đội mũ cối, hút thuốc rê nâu, bỗng chốc hóa thành một thứ quan viên giàu sụ. Trong cái tranh tối, tranh sáng của một thể chế kinh tế “vật đổi sao dời” đến chóng mặt kia, đạo đức xã hội chuẩn mực mà người Sài Gòn được thừa hưởng từ cha ông ngàn năm xây dựng, phút chốc biến thành thứ đạo đức lừa thầy, phản bạn, chém chúa, lộn chồng của một xã hội hỗn loạn, nhiễu nhương, khi ăn cướp trở thành một chính sách.

Vẻ đẹp Sài Gòn chỉ còn trong cổ tích.

Hồi ức Việt Nam của tôi là một mảng tranh buồn màu xám.  Bởi khi tôi ra đi còn biết bao điều dang dở, méo mó ở sau lưng. Ngày ra đi, phía trước tôi là đường tương lai mờ mịt, sau lưng tôi là quá khứ tối tăm của một thế hệ bị quăng bên lề xã hội. Chúng tôi đã sống như thứ hình nhân câm nín, một thứ công dân hạng hai.Luôn luôn được nhắc nhở rằng hơi thở mà chúng tôi đang có được là nhờ ơn cách mạng khoan hồng. Thế hệ chúng tôi chỉ là lớp vỏ đệm của những biến cố lịch sử ở Việt Nam sau cuộc chiến “một mất một còn” giữa những người chung dòng máu Lạc.

Dẫu thế nào, tôi vẫn mơ có một ngày quê hương sẽ rũ bỏ hết những vết thương quá khứ. Những vết thương cần khép miệng để lành hẳn theo thời gian. Ta cần phải làm hòa với quá khứ để đi tiếp ở hiện tại và ở tương lai. Không chỉ thế hệ tôi, thế hệ trước tôi, thế hệ sau tôi, sẽ tiếp nối không còn ranh giới. Cái ranh giới: địch và ta sẽ không còn tồn tại.  Cho dẫu lịch sử Việt đã ghi dấu đất nước bao lần chia cắt, nhưng người Việt Nam vẫn luôn hướng về nhau với tấm lòng sắt son: máu chảy, ruột mềm.

Gần bốn mươi năm kết thúc cuộc chiến tranh tương tàn lịch sử. Dấu vết chiến tranh đã không lại gì trên những vùng đất giao tranh xưa. Sự sống hồi sinh sau bao năm tháng người dân Việt phải vật lộn với cuộc mưu sinh. Có mấy ai nghĩ nhiều về những người đã nằm xuống. Có thể nào, chúng ta hi vọng một ngày, sẽ thấy một nơi chốn được dựng lên trên nền đất Việt, để con cháu Việt đời sau, được đến nơi, được tưởng nhớ, tri ân những người đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam cho dẫu họ ở bên này hay bên kia chiến tuyến.  Người ta không ai biết chắc có bao nhiêu người đã mất trong cuộc chiến này. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, tất cả những con người đó chỉ hy sinh cho điều duy nhất: lòng yêu quê hương và sự trường tồn của dân tộc.

Hà Trinh




Monday, 23 March 2015

Vỉa hè : Miếng ăn khác nhau chỗ nào?









Một chung cư sang trọng có 50 hộ dân giàu có ở đòi đuổi 500 người bán hàng rong ở cái hẻm kế bên cút đi cho phố thị đẹp đẽ, thêm phần sang trọng trọn vẹn. Nó không phải là công bằng, đó chỉ là thứ lý thuyết ngụy biện của những người cầm dùi cui và nhân danh “vì đô thị xanh sạch đẹp” vung lên đập những kẻ yếu thế.

Khi viết bài này, tôi vừa xem xong một diễn thuyết của ông Enrique Penalosa “Tại sao xe bus lại là biểu hiện của dân chủ trong thực tế?”(*), cựu thị trưởng của thành phố Bogóta, Colombia, người đã từng biến thành phố này từ một thiên đường của tội phạm, trung tâm của tham nhũng và bạo lực trở thành một trong những thành phố bình an nhất, nhờ vào việc chăm sóc từng cư dân của mình. Một trong những lý thuyết mà Enrique nói ông đã đeo đuổi khi làm thị trưởng và ra quyết định đó là: Sự công bằng trong chất lượng cuộc sống.

Một chiếc xe bus với 80 hành khách trong xe xứng đáng có một con đường rộng hơn gấp 80 lần so với 1 chiếc xe hơi chỉ với 1 người ngồi lái. Một người lái một chiếc xe đạp trị giá $30 cũng có sinh mạng quý giá tương đương với người ngồi trong chiếc xe hơi trị giá $30.000. Dựa vào lý thuyết  đó, (dù rằng chính ông thừa nhận khi diễn thuyết là “một sự công bằng ta đã quên mất”), Enrique đã xây dựng một hệ thống đường đi bộ khổng lồ dành cho những cư dân đang hàng ngày phải sống cạnh sự đe dọa lấn chiếm của những bãi đậu xe hơi. Hệ thống xe bus mang tên TransMilenio khiến đường chạy xe bus rộng gấp nhiều lần xe hơi, và những người lái xe hơi đang xếp hàng nhích ga từng chút phải “chết thèm” với hệ thống xe bus công cộng đang chạy với tốc độ cao bên cạnh.

Lý thuyết của Enrique về sự công bằng trong chất lượng sống đã khiến tôi nghĩ về những người bán hàng rong trên vỉa hè ở thành phố lớn tại Việt Nam. Họ là những người (đa số) xuất thân từ nông thôn. Cũng như bao cư dân công bình khác trong xã hội, nếu làm ra lúa, trồng ra cafe, trồng ra sầu riêng mà đem bán, họ đều phải chịu thuế như bao viên chức thành phố cổ cồn ngồi xe hơi khác. Họ thực thi trách nhiệm với nhà nước và xã hội dựa trên phần thu nhập họ tạo ra trong cuộc sống – như bất cứ cái người  thành phố nào đang ngồi xe hơi và lấn chiếm vỉa hè một cách thoải mái ở các quán cafe sang trọng ở quận 1 (TP.HCM).

Sự phân công lao động kém cỏi, tình trạng thất nghiệp và thừa thãi lao động – là lỗi của chính cái nhà nước họ đã đóng thuế – đã khiến rất nhiều người ở nông thôn lâm vào cảnh đói kém và phải bỏ xứ đi kiếm ăn xa nhà. Tại sao họ cũng đóng thuế mà không được đối xử công bằng như bao công dân khác? – Sẽ không ai có đủ can đảm trả lời rằng cứ ở đấy và sống với phần ruộng lúa và giá cafe liên tục xuống giá một cách không kiểm soát thì người nông dân sẽ khỏe re êm xuôi sống sung túc. Sự bất an đó đẩy rất nhiều người lên thành phố mưu sinh – như một hệ quả của nhà nước tổ chức kém và thiếu hiệu quả trong phân bố lao động và bình ổn thị trường nông sản cho người dân.

Ấy vậy mà, khi bước vào phố thị, thành phố và những trí thức cổ cồn sang trọng (vốn hằng ngày vẫn dừng xe mua mớ rau của đám hàng rong vỉa hè khi tan sở) thẳng thừng chỉ vào mặt họ và nói: Chúng mày chỉ làm bẩn thành phố, dẹp hàng rong vỉa hè đi cho đẹp sạch văn minh.

Nhưng văn minh là thế nào? Văn minh liệu có phải là một nhóm người có nhà thành phố, có xe hơi muốn đi hẻm rộng nên thấy mình thật ức chế khi lũ người kia dựng lên gánh hàng rong đầu xóm làm bẩn mắt mình? Văn minh liệu có phải là những cuộc chạy tán loạn, ném đồ của người hàng rong lên xe, chửi bới họ như chó mèo, siết cổ họ như tội phạm rồi gọi đó là “làm đẹp đô thị”?

Mưu sinh và di chuyển là quyền tự do của hầu hết con người trong cuộc sống này. Đói kém nơi này tự khắc phải đến nơi sung túc hơn làm ăn. Và vì họ – khi làm nông dân – cũng phải đóng thuế hằng năm cho nhà nước – họ cũng là những công dân có quyền mưu sinh ở thành phố như bất cứ cô cậu cổ cồn lái xe hơi nào.

Nếu bạn từng đi trên con đường Trường Chinh ở TP.HCM, có bao giờ bạn tự hỏi tại sao lại có một cái làn xe hơi to gấp 4 lần xe máy, trong khi chỉ có 3 – 4 chiếc xe hơi chạy qua, trong khi hàng nghìn chiếc xe máy phải nối đuôi nhau đi 5 km/h trong một đám kẹt cứng? Cái đó đâu có gọi là văn minh hay công bằng – cái đó là một cuộc đầu tư công để phụng sự những người giàu có. Nó cũng giống như cuộc chiến với hàng rong. Một cái chung cư sang trọng có 50 hộ dân giàu có ở đòi đuổi 500 người bán hàng rong ở cái hẻm kế bên cút đi cho phố thị đẹp đẽ, thêm phần sang trọng trọn vẹn. Nó không phải là công bằng, đó chỉ là thứ lý thuyết ngụy biện của những người cầm dùi cui và nhân danh “vì đô thị xanh sạch đẹp” vung lên đập những kẻ yếu thế, nghèo khổ – không chung giới với mình.

Nào chỉ có xứ TP.HCM này có hàng rong, cả thế giới này có hàng rong. Tại sao những người nghèo đô thị không được xếp vào một vị trí đàng hoàng để họ có thể mưu sinh, đóng thuế phù hợp với thu nhập và có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của mình? Tại sao chính quyền không phải là người đối thoại để lập lại trật tự, với giao kèo về rác thải, vệ sinh, món ăn, hàng hóa mà lại hóa thành người cầm dùi cui đi siết cổ người đẩy xe hàng rong? – Chẳng phải chính quyền có thể đối thoại với những nhà hàng sang trọng, để biến vỉa hè thành bãi đậu xe hơi cho khách tới ăn hay bàn để cafe cho khách ra ngồi hóng gió?

Tại sao thay vì những chính sách tôn trọng, không cổ súy nhưng không xua đuổi và hằn học, lại là những chiếc xe hơi và đám người “trật tự đô thị” được trả lương (bằng thuế của người dân) để hè nhau đi giật rổ cà chua, chích điện anh hàng rong, đạp đổ thúng bánh tráng của bà già?

Có người ngụy biện rằng đám hàng rong phải trả tiền cho anh chị giang hồ để “giữ chỗ”, không thì đừng mơ mà bán. Vậy tại sao chính những người đang quy hoạch vỉa hè không thỏa hiệp được với người bán hàng rong như đám anh chị giang hồ kia làm được? Tại sao họ lại đẩy những người dân nghèo vào thế đối lập với chính mình – để họ quay ra bất chấp tất cả, vẫn bưng thúng mủng hàng hóa ra đường bán, để tranh cướp cho được vài chục nghìn trên rổ cà chua hay gánh rau xanh?

Miếng ăn sao lại là đặc quyền của những người đô thị – cho rằng đô thị thuộc về mình, phải đẹp như ý mình, xanh vừa mắt mình. Đất đai, thành thị, miếng ăn vốn dĩ là không thuộc về một nhóm đặc quyền nào, nó phải có những phần thuộc về những nhóm người nhất định. Nếu người thành thị được lái xe máy đi làm ở cao ốc, thì những người hàng rong cũng có quyền đẩy xe đạp đến một vị trí phố xá thích hợp và kiếm miếng ăn qua ngày.

Nếu không làm được điều đó, nó là lỗi của hệ thống quản lý đô thị cực đoan, không thừa nhận nhóm dân cư thất nghiệp đang cần mưu sinh bằng nghề tự phát như hàng rong, là nhắm mắt che tai trước hàng triệu người còn no đói thất thường với xe đậu hũ, gánh chè đậu đen. Đó không phải là trật tự đô thị, đó là sự ngụy biện của những người mang phong thái của sự giàu có đang rũ bỏ kẻ khác khỏi cái thành phố mà họ và người nghèo kia đều phải đóng thuế như nhau.

Đó là một sự bất công đô thị được trang điểm bằng cái áo “vì văn minh và thành phố sạch đẹp”.

Giống như Enrique Penalosa phân tích trong bài phỏng vấn dành cho New York Times: “Ở các nước đang phát triển, hầu hết mọi người không có xe hơi, vì thế tôi nói, xây dựng những đường đi bộ tốt là xây dựng một nền dân chủ. Đường đi bộ là biểu hiện của sự công bằng. Ở các nước đang phát triển, đường đi bộ lại không phải là ưu tiên hàng đầu. Họ ưu tiên xây đường cao tốc và đường cho xe hơi.”… “Chúng ta xây đường cho xe hơi còn nhiều hơn hạnh phúc cho trẻ con… Những người có thu nhập cao ở các nước đang phát triển chẳng bao giờ đi bộ. Họ nghĩ thành phố là nơi đầy đe dọa – và có khi hàng tháng trời họ ra ngoài mà chẳng hề phải đi bộ qua một block nhà nào.”

Quả thật, ở TP.HCM, khi dẹp đuổi hàng rong và xô đẩy vỉa hè, thực ra là người ta đang dọn đường cho những người giàu đi qua cho thật mát mẻ, thong dong…

Khải Đơn
Theo: Báo Thanh Niên 







Monday, 9 March 2015

Cây Sài Gòn






Tất cả cây cối ở Sài Gòn, trước Nhà hát Lớn và trên các đại lộ Hàm Nghi, Tự Do, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Trần Quốc Toản, công trường Lam Sơn, dọc bến Bạch Đằng, công viên Gia Định, một khi bị đốn hạ đều biến thành ve sầu. Tội ác đối với chúng quá lớn nên thiên nhiên phải tìm cách ghi lại, không phải bằng văn chương hay hội họa mà bằng ký ức của âm nhạc. Những tấm màng mỏng rung động mãnh liệt, âm thanh khuếch đại trong bụng ve rỗng, cường độ mạnh, âm vực lớn, tạo nên những khúc ca thay đổi. Nhưng thiếu bóng mát, ve sầu chỉ có thể sống lẩn lút giữa các bức tường xây ngổn ngang, trong gạch đá vôi vữa của kiến trúc đô thị bị phá hủy, rút ngắn đời sống của chúng.

Cơn điên mùa hè thổi tới. Bạn cảm nhận trong thứ tiếng khàn khàn: một chuyện gì khủng khiếp sắp xảy ra. Đó là một mùa hè nóng như thiêu đốt. Nhiều ngày không mưa, không khí đặc lại, trời mờ mờ, lá khô rơi xuống không chạm đất. Máy móc gầm rú khắp ngã đường. Khi những cây cổ thụ trăm năm, đã từng sống sót qua bão táp, qua bọ rầy, sâu, nấm, độc tố, ngày ngày cho bóng mát, bị các lưỡi cưa máy điềm nhiên cắt ngang như một người tù bị cưa ngang đầu gối, trên sa mạc Trung Đông, bị bịt miệng bằng tấm vải đen, chúng từ từ khuỵu chân xuống, ngã ngửa ra sau, phía không có lưỡi cưa, không có quá khứ, không có kỷ niệm, đổ ào vào các bức tường trắng bên đường.

Linh hồn của chúng bay lên trời, tạo ra những âm thanh nghe như tiếng khúc kha khúc khích của trẻ con mà mọi người khen là tuyệt hay. Đêm đêm những con ve sầu hót rền thành phố, không ai ngủ được, giọng rồ như người ngạt thở, kêu lạc giọng vượt ra ngoài âm vực bình thường, khiến chúng tôi với dụng cụ đặc biệt tinh vi cũng không thể nghe được. Nhưng chó và mèo đang ngủ, thức giấc vểnh tai, chạy loạn trong đêm, kêu gào. Mọi người trở nên nóng nảy bồn chồn, hay cãi cọ nơi làm việc, vợ chồng mới cưới gây sự đánh nhau trong đêm tân hôn, xé rách mền gối. Buổi chiều tan sở những người đàn ông về nhà muộn, ngày càng muộn, và khi họ lê chân về tới cửa, không còn thấy bóng các bà vợ.

Hồn của cây ở đâu? Ở trong cấu trúc phức tạp của chúng. Cấu trúc không phải là phép cộng các thành tố, chúng lớn hơn tập hợp ấy, và phần khác biệt nọ, phần trội lên kia của số đo vật chất, chính là linh hồn. Cây có mặt trên trái đất rất lâu trước các loài động vật có vú và trước con người. Chúng là một cộng đồng. Nhìn bề ngoài các cây đứng riêng rẽ nhưng thực ra chúng nương tựa vào nhau, về miễn dịch, về giới tính, về dinh dưỡng, thu hoạch thức ăn từ cây khác. Cây bị giết không chỉ vì các lưỡi cưa máy, chúng còn bị giết từ từ bằng quá trình hủy hoại bên trong, do tác động bên ngoài. Hủy hoại có hai cách: mục nát, bùn lầy, mê hoặc. Hoặc khô đi, cằn cỗi, rỗng ruột, hư vô. Như trong một cộng đồng người, khi một cây ngã xuống, nhiều cây khác tổn thương, chúng già sớm, chết non.

Mùa xuân không đến, hay đến không ai nhận ra, không có lá non và lộc biếc, chim chóc bay về lẻ tẻ không có bầy, chỉ có gió thổi hun hút các bờ tường và ống khói, không ngừng, mặt đường nhựa nóng rộp bàn chân. Các kiến trúc biệt thự từ thời Pháp, lãng mạn, hài hòa, vừa chắc chắn vừa thanh nhã, bỗng rùng mình rã hết vôi vữa, thoắt một cái trở thành đống xương lăng tẩm. Một vùng sông nước rì rào kinh rạch vướng rác rưởi, ruồi nhặng bay vù vù từ mùa khô tới mùa mưa, những mái ngói đỏ của Sài Gòn nhìn từ con kinh Tàu Hũ mịt mù vì bụi, các ngõ giao thoa văn hóa Việt - Pháp, Việt - Hoa, Việt - Ấn, Việt - Khmer bị lột trần như vũ nữ Apsara vừa bước khỏi sàn nhảy là gặp phải tướng cướp, lột váy. Sau khi linh hồn của cây chịu không được sức ép của không khí nóng, bay đi hết, thân xác chúng như trẻ con không cha mẹ liền bị đốn ngã, bị hạ độc, trái tim của những người đàn bà gập xuống như bẹ chuối khô, nhưng tâm trí những người đàn ông chúng tôi lại nhẹ nhõm hẳn ra, ngày càng nhẹ, bắt đầu bay lên được. Chúng tôi không cần nói nhiều, để mặc mọi người tranh luận, than thở, đọc ai điếu, viết trường ca, làm thơ châm biếm đủ loại từ Đường qua lục bát đến tân hình thức, chúng tôi đã bí mật quyết định xong, lầm lũi làm công việc của mình, đo ngắm các lòng đường, các diện tích có thể bán được, buổi sáng ngắm nghía các nóc chuông nhà thờ nơi chúng tôi có thể gởi trực thăng đến tháo gỡ chúng ra, ngắm nghía những đám cỏ xanh còn lại giữa hai lề đường, tìm cách phủ một lượt xi măng lên chúng.

Ôi xi măng: chúng tôi yêu quý bạn biết chừng nào. Ha, ha, ha! Chúng tôi thuộc về nền văn hoá mới: văn hoá kỹ trị. Chúng tôi phục vụ cho ý thức mới: tuân phục. Chúng tôi chỉ có niềm vui duy nhất: cái máng. Sinh ra trong đấu tranh: chúng tôi chỉ có thể là con đẻ của bạo lực. Chúng tôi căm ghét ký ức lãng mạn của Huế, Sài Gòn, Hà Nội, chúng tôi muốn đổi tên sông Thương thành sông Chiến thắng, sông Cầu thành sông Thành công, sông Đà rằng thành sông Độc lập, vân vân, hoặc đánh số các dòng sông, vì tên kiểu mới hay hơn, có nghĩa rõ ràng. Ký ức không thuộc về chúng tôi. Ký ức cá nhân chỉ là quá khứ, đáng thương, nhưng lãng mạn tập thể là chống lại văn minh công nghiệp, chống lại phát triển, đáng căm ghét. Cây là nữ tính: chúng tôi căm ghét nữ tính.

Thế rồi mọi chuyện có vẻ không ổn. Sau một thời gian dài, khi chúng tôi bắt đầu trồng lại những cây mới bứng từ trên rừng về chở bằng xe tải lớn, những cây ấy không sống được, hay lớn lên nhỏ nhoi còm cõi, vì không có linh hồn, lá me đầu xuân không xanh biếc như môi hôn, lá bàng cuối thu không đỏ như môi ăn trầu, chỉ một cơn gió nhẹ cũng làm những cành cong mềm mại nhất gãy đôi. Người ta bứng chúng đi. Những con đường không có người đi dạo lúc nào cũng mới.

Ngay những du khách nước ngoài táo bạo nhất hay ngu ngốc nhất hay dễ tính nhất, cựu chiến binh già yêu thích các vết thương và hố bom, bọn trí thức ở Mỹ về quàng khăn rằn đi guốc mộc nhưng chỉ uống được Chivas 25 trở lên, bọn hippies choai choai không xu dính túi cũng từ từ rời bỏ chúng tôi, một lần tới, không bao giờ trở lại, once you see a black (hole) you never come back, vì họ chẳng thấy gì khác nhau giữa một thành phố láng lẫy như gò venus bị cạo sạch và một tảng thịt cừu hay thịt lợn trên mặt thớt trơn bóng. Mỗi năm mùa hạ về, linh hồn cây cối lại kêu vang lưng chừng trời, nhưng không ai nhìn thấy chúng. Khi không còn cây lá, mái ngói rêu phong, ve sầu không nơi trú ngụ, như phần tâm linh không thân xác, chúng bám vào các cửa sổ xanh đỏ kêu suốt đêm, mơ ước cuộc đời đủ dài cho các sai lầm và các sửa chữa, nhưng cuộc đời không đủ dài, sáng mai rụng xuống rào rào như vỏ trái khô. Chó và mèo cắn nhau đến chết, khi không cắn nhau chúng đi lại khẽ khàng trên các bậc cửa nhìn mọi người gườm gườm. Trong những con hẻm nhỏ ở Sài Gòn, đầy các biểu ngữ ngày lễ hội, đến đêm là tối om vì đèn đường bị đập vỡ bóng, bốc mùi tương Vị yểu, quanh những đống rác vứt đầy bao cao su, những con chó không ăn không uống, không thích gặm xương, chúng chỉ thích đuổi nhau, lừa nhau, cắn nhau, chỉ thích sủa gâu gâu gâu vào người lạ mặt.

Mọi người trở thành kẻ lạ mặt. Một mùa hè, một đám mây bay qua, đám mây đỏ, nhưng không phải là máu, không phải mưa. Đó là trái tim của một linh hồn hiếm hoi còn sót lại của cây cổ thụ già nhất Sài Gòn, một cây dầu ba trăm hai mươi tuổi. Đám mây bay sát những ngôi nhà cao ngất chọc trời vừa được xây lên, bay thật chậm, nhỏ những giọt nước như ứa ra từ mí mắt. Khi chúng tôi ngước nhìn, những giọt nước ấy rơi trúng mặt, đen, mới đầu bỏng rát, nóng, đau đớn như cường toan, chúng tôi nhắm mắt chịu đựng, chúng từ từ mát lạnh trở lại, thấm vào da thịt, thấm vào tim, làm thay đổi chúng tôi, biến chúng tôi thành hàng cây đứng im trên đường. Thành những cây gòn xanh tươi, cây xà cừ vững chãi, cây me óng ả, khuynh diệp vàng, cây dầu cao lớn mơ mộng, cây sao mượt mà. Chúng khóc cho linh hồn phố thị. Chúng tôi bắt đầu biết im lặng, biết sợ hãi, biết nhục nhã, biết ngưỡng mộ, biết căm giận, vì đã lâu chúng tôi không còn biết im lặng, biết sợ hãi, biết nhục nhã, biết ngưỡng mộ, biết căm giận về bất cứ điều gì, chỉ có những kẻ thất bại mới biết thế, chúng tôi biết kêu rì rào khi mùa xuân tới, biết đến nỗi hoan lạc của sự sống tự do chưa hề có từ lúc chúng tôi mới sinh ra. Và bắt đầu biết thương tiếc, thương tiếc, thương tiếc và để chống lại trạng thái buồn rũ rượi chết người mà cảm giác ấy gây nên, chúng tôi chỉ còn biết làm việc, làm việc, làm việc.


Nguyễn Đức Tùng


Tuesday, 20 January 2015

Cà phê Sai Gòn qua góc nhìn của cô gái Hà Nội





Hà Nội bữa nay nắng ấm quá. Những giọt nắng ngọt ngào sau cơn mưa đậu trên phin cà phê mới pha đang chầm chậm nhỏ từng giọt, từng giọt.


Bài đọc thêm: 


Sáng nay, tôi chiều chuộng bản thân bằng cách pha một ly cà phê đúng ngĩa, chẳng lười biếng xé gói cà phê pha sẵn đổ vào cốc như mọi hôm. Mùa đông, nên cà phê nóng. Không đâu mà tôi lại nhớ đến ly cà phê sữa đá trong trẻo mát lạnh của Sài Gòn. Hay bất cứ lúc nào nhớ đến cà phê, tôi cũng nhớ cà phê Sài Gòn, không rõ nữa…

Đi Sài Gòn dăm ba bận, hỏi tôi nhớ gì nhất, lần nào cũng chỉ là cà phê. Chẳng dám nhận mình là người sành sỏi, tôi uống cà phê bằng cảm xúc nhiều hơn là hương vị. Mỗi khi đặt chân tới một vùng đất nào đó, tôi có thói quen nếm thử cà phê của họ, cảm nhận đặc trưng của nền văn hóa ấy qua vị đắng ngọt của những giọt hổ phách nguyên lành trong trẻo, ngắm những người ở xung quanh mình, nghe cách họ gọi, cách họ uống để chiêm nghiệm và mỉm cười... Ai đó đã nói với tôi về cà phê Sài Gòn từ khi mảnh đất này với tôi vẫn còn xa lạ, rằng Sài Gòn cà phê sữa đá, Hà Nội trà đá vỉa hè. Ấn tượng ấy rõ nét đến nỗi lần đầu tiên bước chân vào nơi đây, việc đầu tiên tôi làm là…đi uống cà phê, dẫu phải dầm ướt sũng trong cơn mưa hạ cuối mùa.

Cà phê Sài Gòn qua góc nhìn của một cô gái Hà Nội 1
Ảnh: Linh San 


Lần đầu tiên gọi cà phê ở Sài Gòn, tôi buột miệng gọi “nâu đá” như thói quen ở Hà Nội. Thấy cậu bé phục vụ thoáng bối rối, mới nhớ ra ở Sài Thành không có nâu đá mà chỉ có cà phê sữa đá. Sau này, đi cà phê Sài gòn với bạn, dù luôn được bạn ân cần hỏi: “Em uống gì?”, nhưng vẫn cứ thích tự mình gọi bởi cái cách người Sài Gòn kêu " Cà phê sữa đá" thật quá ư dễ thương. Về Hà Nội lại phải gọi “nâu”, “đen” để tránh làm bạn nhân viên miền Bắc “bối rối” lần nữa mà đôi khi thèm một giọng Sài Gòn thiệt ngọt: “Dạ một cà phê sữa đá có liền”.

Cà phê Sài Gòn uống nhạt nhưng thơm tinh khiết và êm ái, màu nâu ánh khi pha thêm sữa thì chuyển thành hổ phách trong trẻo, trông “đáng yêu” hơn ly cà phê có màu đen kịt mà không hiểu sao có người vẫn chuộng. Có lẽ bởi cái xứ này nóng nên đá viên trong ly bao giờ cũng rất nhiều, báo hại tôi sau này đi uống cà phê Hà Nội cũng đòi thật nhiều đá, để rồi lại rầu lòng vì mấy bạn nhân viên mang ra hổng phải đá viên nhỏ xíu trong trong như ở Sài Gòn. Cà phê đựng trong cái ly thủy tinh cao cao, đá viên nhỏ xíu lúc lắc, bưng lên là ngó được cả trời xanh mây trắng bên trong. Uống được phân nửa, tôi thích cầm ly lắc qua lắc lại cho đá kêu lanh canh. Cái thú ấy, cứ phải vào Sài Gòn uống cà phê mới thích chơi.

Với một kẻ ghiền cà phê, Sài Gòn chiều chuộng tôi quá đỗi khi mà thứ đồ uống ấy phủ khắp mọi nơi, cần là có liền. Quán sang đắt đỏ, cà phê vỉa hè, cà phê đựng trong ly nhựa thong dong dạo công viên… kiểu gì cũng có nét riêng rất đỗi Sài Gòn. Tôi nhớ lần vào Sài Gòn gần nhất, vì bạn kể thường ngồi uống cà phê từ tờ mờ sáng ở hông chợ Bến Thành, vậy là tôi cũng lui cui dậy từ 5 giờ sáng, chạy ra đó cà phê cùng với bạn. Hai ly cà phê sữa đá, một chiếc ấm nhôm đựng nước, chúng tôi ngồi nhìn Sài Gòn tỉnh dậy, hoặc Sài Gòn chưa bao giờ ngủ đang ngắm nhìn tôi.

Hoặc một lần vào Sài Gòn xa xa hơn nữa, đi cà phê ở một quán…hơi sang, gặp một cậu nhân viên dễ thương có giọng nói ngọt ơi là ngọt, chốc chốc lại: “Xin phép để em rót thêm nước cho chị”. Mình ghé tai anh bạn thì thầm: “Phục vụ ở Sài Gòn dễ thương quá”, vậy mà cậu nghe thấy, quay lại nở nụ cười còn ấm hơn cả cái nắng Sài Thành đang rực rỡ ngoài kia.

Vì lỡ thích cà phê Sài Gòn, tôi cứ lơ mơ nghĩ trong lòng rằng sau này sẽ chạy dọc dọc Việt Nam, uống thử cà phê ở mỗi vùng với một người mình thích. Cái tính tôi thế, ăn bằng nỗi nhớ, uống bằng cảm xúc, hương vị nhung nhớ nào cũng muốn kiếm người tâm giao để chia sẻ, kiểu như ly cà phê vỉa hè ở Sài Gòn xa lắc cũng muốn có người vào uống chung vậy đó.

Nói chung là nhớ cà phê Sài Gòn…

May


Monday, 5 January 2015

Dân Sài Gòn






Năm 2015 đến với một loạt sự kiện làm người có theo dõi sinh hoạt chính trị của đất nước không ít băn khoăn. Có cái gì đó đang cuồn cuộn chảy bên dưới xã hội mà sức chấn động của nó không khó để nhận ra. Tháng cuối năm là sự bắt bớ liên tiếp các nhà văn, blogger và người viết bài nhận định chính trị. Qua năm mới là sự ồn ào của trang web “Chân dung quyền lực”  với hình ảnh của Nguyễn Bá Thanh ngồi xanh xao trên giường bệnh chờ ngày về nước. Hình ảnh này chiếu lại những thước phim về Giáo Xứ Cồn Dầu về những gì mà con hùm Quảng Đà đã từng làm, từng nói khi chưa rời khỏi lãnh địa của mình.

Người dân Đà Nẵng xôn xao. Người dân cả nước giật mình vì trang mạng có một không hai này. Người bên ngoài lẫn bên trong đảng cùng có một kết luận: Đây là sự đấu đá nội bộ và trang Chân dung quyền lực là của cấp cao nhất trong tứ trụ lập ra nhằm bôi xấu, lật tẩy, định hướng dư luận các khuôn mặt bẩn thỉu trong cái khung quyền lực đang hiện hữu tại Việt Nam.

Người đọc nó thoải mái không bị tường lửa. Người khen kẻ chê nó không bị công an khó dễ hạnh họe. Người lấy nó làm bằng chứng cho một mưu đồ chính trị được dư luận đồng tình vì nó nói những điều có thật. Nó nói hôm trước thì hôm sau các tờ báo chính thống chạy theo loan tin phi cơ chở Nguyễn Bá Thanh về Đà Nẵng với sự chuẩn bị của an ninh phi trường. Và nó được an ninh phi trường khẳng định họ đã lấy tin từ mạng tức từ …Chân dung quyền lực!

Lịch sử chưa từng có chuyện nào tương tự như vậy khi cộng sản là thành trì của bưng bít và xử lý thông tin. Chân dung quyền lực ung dung loan những gì mà nó có và phía sau nó là một đội ngũ báo chí sẵn sàng tiếp tay làm cho nó được tung ra rộng rãi hơn trong nhân dân. Gia đình ông Nguyễn Bá Thanh không cần chờ tin từ Ban bí thư trung ương mới biết số phận của chồng, cha của họ. Căn nhà số 189 đường Cách Mạng Tháng 8 thành phố  Đà Nẵng vẫn cửa đóng then cài nhưng bên trong biết bao là sóng gió vì cái tin chủ nhân của nó bị đầu độc. Người đầu độc con hùm xứ Quảng lại là một tay xứ Quảng khác: Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đau gì mà đau lắm thế này. Những tưởng cả nước có hai người đại diện cho cái xẻo miền Trung thì phải thương yêu nhau, ngờ đâu lại trở mặt hại nhau thì còn ra cái chi? Thì ra trong chính trị con người sẵn sàng trở mặt để làm thú dữ vì bả đỉnh chung. Khác với ngoài đời, khác với những người được âu yếm gọi là nhân dân tuy nghèo nàn và cùng quẫn họ vẫn nương tay với nhau chăng? Có lẽ đúng và cũng có lẽ không đúng.

Nếu “bả lợi danh” trong môi trường chính trị khiến kẻ nào theo đuổi nó dễ mất nhân tính, đi đến chỗ hạ thủ đồng chí của mình thì ngoài đời “bả chó” lại giết người dùng nó không chút nương tay.
Trong ngày đầu năm báo chí loan tin: Ngày 02/01/2015   tại Khu du lịch sinh thái Hồ Khe Chè, Xã An Sinh huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh hàng trăm người dân đã đánh hội đồng 2 người đàn ông mà họ nghi là trộm chó khiến 1 người chết, 1 người bị thương nặng.  Trộm chó thì cần có “bả chó” mới “gây mê” được cho “đối tượng”. Những miếng bả chó đã từng giết bao nhiêu kẻ trộm chó trên khắp miền Bắc đã minh họa được một điều quan trọng: người xứ Bắc không khoan nhượng với đồng loại. Chỉ một con chó bị ăn cắp họ chấp nhận giết người mà là giết người tập thể, giết xong hàng trăm người vỗ ngực là chính mình giết. Giết kẻ trộm chó đối với họ là vinh quang là công lý. Và không gì làm cho cái vinh quang, công lý ấy ngừng lại. Người miền Bắc hình như bị nhiễm độc tập thể vì chính sách tung hô “máu” của nhà nước qua các vần thơ đẫm máu của thời chiến tranh thần thánh mà ông Tố Hữu là kẻ dẫn đầu:

Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu
Người vươn lên, như một thiên thần!

Hay:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong, 
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”

Những giòng thơ máu mủ ấy, ngọn cờ đầu của đảng ấy đang trở thành bảo tàng tại Hà Nội. Thơ giết người được giảng dạy trong nhà trường gần nửa thế kỷ và hôm nay những giòng thơ máu ấy chảy tràn khắp miền Bắc.

Chỉ miền Bắc mới có hành động giết người công khai và liên tục như thế. Từ tỉnh này sang tỉnh khác, kẻ trộm chó bị giết nằm lăn lóc như những con chó không hơn kém và chính quyền vẫn chưa có một biện pháp nào khả dĩ ngăn chặn được mức độ vô nhân này. Pháp luật tỏ ra là trò cười. Tất cả các đơn vị hãnh diện mang trên mình sứ mệnh bảo vệ pháp luật đang chằm chằm vào Chân dung quyền lực để chờ xem những màn thanh toán sẽ diễn ra trong nội bộ tiếp theo. Miếng “bả chính trị” xem ra hấp dẫn hơn “bả chó” vì nó đang được ném ra chốn công luận cho hơn ba triệu đảng viên đánh giá. Đánh giá và tự hiểu nên đứng về phía nào, anh Ba hay anh Tư, bác này hay bác kia…nhưng trong các bác các anh ấy không hề thấy anh hay bác nhân dân. Lạ lắm.

Lạ hơn nữa là nhân dân miền nam, những người không được vinh dự đưa tay hoan hô Tố Hữu lại chưa từng xảy ra vụ giết người bất nhân nào như ở khắp các tỉnh miền Bắc.
Ngày cuối năm còn một cái tin “bất thường” làm cho không ít người rơi lệ. Báo Tuổi Trẻ giật tít: “Dân Sài Gòn cởi áo cho kẻ trộm chống lạnh”. Quả là dân Sài Gòn!

Câu chuyện xảy ra tại Phường 10 Quận 5. Một thanh niên trộm con heo dầu bị phát hiện, sợ quá nhảy xuống kênh Tàu Hủ và người dân đứng đầy trên cầu Nguyễn Tri Phương xem anh ta quýnh quáng bơi dưới dòng sông lạnh gắt của ngày cuối năm. Thấy anh ta lạnh, vài người lôi anh ta lên và cởi áo của mình cho anh ta mặc. Đơn giản chỉ có thế vậy mà trở nên “hot” hơn bất cứ tin nào. Người miền Nam xem xong chặt lưỡi: chà! thì ai mà lại không như vậy, thấy người ta có tội thì bắt còn lạnh hay đói thì phải giúp chớ, con người với nhau mà.

Báo Tuổi Trẻ giật cái tít hay nhất trong … vài thập niên làm báo. “Dân Sài Gòn” chứ không phải trống không là “Người dân”. Dân Sài Gòn có cái căn cước của nó. Họ là những con người không bị nhồi sọ tới điên cuồng. Họ biết nhường cơm xẻ áo. Họ biết thế nào là “bả chó” hay “bả lợi danh” và nhanh chóng phân biệt được đâu là chính đâu là tà.

Niềm hy vọng về dân Sài Gòn khiến nhiều người phấn khích.
Và Chân dung quyền lực vì thế không tác động đến họ bao nhiêu vì  tâm họ đủ lớn để biết rằng miếng bả chính trị hay bả chó chỉ dành cho kẻ khác, không phải cho dân Sài Gòn.

Theo: canhco's blog
Sun, 01/04/2015







Thursday, 1 January 2015

Đêm hoa đăng 3D Sài Gòn







Tòa tháp Bitexco lung linh vào thời khắc chờ đón năm mới bắt đầu.
Khi đồng hồ đếm ngược kết thúc, 0h ngày 1/1/2015 những chùm pháo hoa đầu tiên bừng sáng tỏa ra trên nóc tòa nhà cao thứ ba Việt Nam trong tiếng reo hò của hàng chục nghìn người dân.
Pháo hoa nghệ thuật có nhiều kiểu dáng đẹp lạ thiết kế riêng cho phù hợp với địa điểm bắn.
Được bắn ở nhiều tầm cao khác nhau với muôn sắc hoa rực rỡ.
Những chùm hoa đỏ rực, nở bung trên bầu trời đón chào năm mới.
Trời trong và gió nhẹ không cản được những tia sáng xen lẫn với khói đặc.
Tòa tháp Bitexco biểu tượng cho sự phát triển thịnh vượng lung linh trong pháo hoa.
Pháo hoa do một công ty của Pháp được chọn thực hiện phục vụ nhu cầu thưởng thức của người dân Sài Gòn.
Công ty này đã thực hiện bắn pháo hoa ở nhiều tòa nhà nổi tiếng trên thế giới.
Pháo hoa kiểu thác nước cực kỳ độc đáo.
Màn kết hợp với ánh sáng hiệu ứng đèn moving light đem lại những màn trình diễn tuyệt đẹp.
Năm 2015 được đón chào nồng nhiệt với hy vọng có nhiều đổi mới, thông điệp ý nghĩa luôn được nhắc đến là: "Thành phố ngày càng phát triển thịnh vượng."


Hải An - Trương Khởi

Thursday, 13 November 2014

Ngó từ quán nhậu bờ kè






Trích Tạp bút – Nguyễn Thị Hậu


Hồi mới về Sài Gòn nhà tôi ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Hàng ngày, tôi vẫn đi về qua cây cầu Công Lý nổi tiếng. 

Một góc kênh Nhiêu Lộc, mỗi sáng khi nước rút. Nguồn:  Nguyễn Ngọc Hải.
Một góc kênh Nhiêu Lộc, mỗi sáng khi nước rút. Nguồn: Nguyễn Ngọc Hải.
Hàng ngày, tôi cũng nhìn thấy những dãy nhà lụp xụp kéo dài khuất tầm mắt, lan từ ven kênh đến sát phía sau những biệt thự cao ốc sang trọng là mặt tiền của con đường rực rỡ đèn màu cửa kính… Rồi cứ đi dọc ven kênh sẽ qua nhiều con đường khác: Hai Bà Trưng với cầu Kiệu, Trương Minh Giảng (sau này là Nguyễn Văn Trỗi) với cầu cùng tên…


Xóm ven kênh hình như không bao giờ thấy bình minh, ban ngày ánh sáng vẫn nhờ nhờ. Còn khi chiều đến, bóng tối, không thèm đợi hoàng hôn, sụp xuống rất nhanh.

Dòng nước đen đậm đặc mùi xú uế lưu cữu hàng chục năm làm cho bất cứ ai mới bước chân đến đây đều có thể “chết” vì ngạt thở. Nhưng người sống ở đó thì dường như chịu đựng quen đến mức không biết là có nơi khác không khí dễ thở hơn…

Ngày nắng, mái tôn vách ván phơi mình cong vênh ngày mưa dãy cọc nhà sàn liêu xiêu chìm trong nước… Bờ kênh tràn rác, muỗi dày đặc, chuột chạy như chốn không người…

Đó là hình ảnh nơi cư ngụ của hàng ngàn gia đình, trôi dạt về đây sinh sống từ bao nhiêu nơi, trong bao nhiêu năm qua. Sài Gòn – Chợ Lớn không thiếu những dòng kênh đen và những xóm ven kênh như vậy.

Hình ảnh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã như thế trong mắt tôi ngót nghét ba thập kỷ, cho tới khi xảy ra một sự kiện quan trọng vào năm 2003.

Trước tình trạng ô nhiễm nặng của kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, tuyến kênh dài hơn 13 cây số, chính quyền thành phố đã quyết định đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để thực hiện việc cải tạo, nâng cấp với mong muốn thành phố sẽ có một dòng kênh xanh-sạch-đẹp.

Dự án Vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, sau cú “đề pa” đầy hào sảng, như tiếng phát ra từ ống “pô” những chiếc Vespa cổ, trong mấy năm sau cứ lịm dần, rồi tịt hẳn.

Chuyện xôn xao bắt đầu từ việc giải tỏa những xóm nhà sàn ở trên và hai bên dòng kênh đen ngòm dày đặc rác. Những ngôi nhà mái tôn vách bằng lá dừa, hay bằng thùng giấy, hoặc bằng bất cứ gì có thể che chắn được, đã dần dần được giải tỏa. Rồi những chiếc máy xúc, cần cẩu xuất hiện, một vệt ngổn ngang nào xà bần, nào bùn rác…

Con đường đã thành hình ở hai bên bờ kênh. Dãy nhà mới nhô ra ở bên từng con đường lúc đầu cũng nhếch nhác không kém những ngôi nhà vừa bị ủi đi. Nhưng, như một phép màu, chúng được sửa sang, hay xây mới rất nhanh, bởi có nhà “mặt tiền” là sẽ kiếm ra tiền thôi mà.

Vẫn còn nhếch nhác, ngổn ngang, vẫn mùi xú uế, nhất là khi nước ròng. Nhưng hở ra đoạn đường nào là hàng quán mọc ra đến đấy. Quán cà phê, quán nhậu, quán nhà lầu, hay quán lá dựng tạm ven kênh. Có quán chỉ là vài bộ bàn ghế, kiểu quán “cóc” ngoài Hà Nội, có quán lại rộng rãi, khang trang, với máy lạnh, đèn màu sáng trưng…

Nếu như vào năm 2003 ước chỉ có vài chục quán thì nay đã có hàng ngàn quán, mọc lên như nấm mùa mưa. Và người ở đâu lại đổ đến đây tấp nập mỗi chiều…

cụ bà trên 80 ..... nhưng hằng đêm vẫn đi bán đậu phộng luộc để kiếm sống trên bờ kè kênh Nhiêu Lộc. Nguồn: OntheNet
cụ bà trên 80 ….. nhưng hằng đêm vẫn đi bán đậu phộng luộc để kiếm sống trên bờ kè kênh Nhiêu Lộc. Nguồn: OntheNet
Dân nhậu đất Sài Thành bắt đầu quen với thuật ngữ quán bờ kè, vừa là địa chỉ chung cho một khu ăn nhậu bình dân mới hình thành, vừa thể hiện đầy đủ những đặc trưng của “Sài Gòn nhậu”: mồi ngon, phong phú, lại khá rẻ; nhiều loại bia rượu từ bình dân đến cao cấp; chỗ ngồi thoải mái, muốn máy lạnh, hay muốn hưởng gió trời, đều có cả; chủ quán và phục vụ nhiệt tình, có người giữ xe máy không mất tiền lại còn cẩn thận dẫn xe giùm khi có ai lỡ xỉn quá.

Nhiều quán còn có các em gái tiếp viên mùa nào cũng áo thun hai dây ôm sát cái eo thon và quần ngắnkhoe cặp chân dài. Rồi các em tiếp thị bia, thuốc lá, hay các cụ già và em nhỏ bán vé số mang đến tận bàn. Thỉnh thoảng có mấy anh chàng “múa lửa”, hay bán kẹo kéo, cùng dàn loa khủng oang oang nhạc sến, à quên, bolero…

Thôi thì ở đâu “chơi” kiểu nào thì quán bờ kè “chơi” kiểu đó.

“Với tất cả sự khiêm tốn những người tự nhận mình khiêm tốn”, tôi vẫn phải thừa nhận rằng, tôi và bạn bè đã thường xuyên góp phần vào sự tấp nập nơi bờ kè. Mỗi chiều, đến giờ tan sở, cứ nghĩ đến đường về nhà phải trải qua vài đoạn kẹt xe hàng giờ vì lô cốt, hình như ai cũng ngán ngại… Vậy là nhắn nhau “ra bờ kè nhé”. Chẳng cần nói tên quán, vì nhóm nào cũng có một, hai “quán ruột” của mình.

Quán “Ốc núi” của bọn tôi nằm ở một đoạn đường khuất, trước quán có hàng điệp mới trồng cao hơn đầu người, nhưng đã trổ bông vàng, và dòng kênh uốn mình, hẹp lại, hiện ra gọn gàng giữa hai bờ mới kè lại đều tăm tắp. Nhiều năm qua, quán này đã vài lần đổi chủ, nhưng không đổi khách. “Băng” tụi tôi thích quán này vì… nó vắng, đã thế đồ ăn khá vừa miệng, lại rẻ nữa. Ngồi đây tha hồ chuyện trên trời dưới đất, không có tiếng dô dô ồn ào xung quanh, lại có thể chỉ ngồi im lặng, lơ đãng ngó đường, ngó kênh, ngắm nhìn hoàng hôn chầm chậm mỗi chiều…

Lý do này thiệt là vô duyên, hổng chừng chủ quán mà nghe thì đuổi cả đám, vì ai mở quán mà mong vắng khách, phải hôn? Quán vắng, có lẽ, vì nó nằm gần như tách biệt khỏi khu vực tấp nập đằng kia, tôi tự lý giải.

Mỗi lần ghé quán là một lần thấy sự thay đổi của dòng kênh, của những ngôi nhà hai bên, và của cả con người ở đây.
 
Nguyễn Thị Hậu








Bài mới đăng

Bài ngẫu nhiên