Powered By Blogger





Showing posts with label Chính Trị - Ngoại Giao - Quân sự. Show all posts
Showing posts with label Chính Trị - Ngoại Giao - Quân sự. Show all posts

Friday, 3 April 2015

Tháng tư chào đón Thủ Tướng Nga






Theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga Dmitry Medvedev sẽ thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5-7/4 tới.

Chúng ta cùng xem qua tiểu sự của ông:







Thursday, 19 March 2015

Trò chơi quyền lực của Putin






Trong những tháng vừa qua, cộng đồng thế giới đã bị chấn động bởi sự bạo gan của Vladimir Putin trong việc lợi dụng tình trạng bất ổn định chính trị của một nước láng giềng. Cũng giống như trò chơi Hungry Hippo lãnh thổ giữa Châu Âu và Nga, Châu Âu đã cáo buộc Nga là cố tranh giành ở mức nhiều nhất có thể vùng lãnh thổ biên giới Châu Âu.

Có thể điều này là do Nga hy vọng Liên Minh Châu Âu (EU) và NATO sẽ thôi xâm lấn vào các lợi ích về kinh tế và chính trị của nước này. Một mặt khác, Nga cương quyết cho rằng Nga chỉ giống như là gấu mẹ bảo vệ các con của nó tránh bị người Ukraine bạc đãi vì lý do chủng tộc.

Khi mâu thuẫn trên trở nên nghiêm trọng hơn và “những tình nguyện viên” Nga được huấn luyện, ước tính khoảng 5700  người, vượt cả số lượng những binh sĩ miền Đông Ukraine, thì rõ ràng là Nga không hề giúp làm giảm tình trạng bạo lực, mà có vẻ như tổng thống Putin đang quyết tâm giữ Ukraine và những nước khác trong tầm ảnh hưởng của nước này bằng bất cứ giá nào.

Thần chú của “Mẹ Nga”

Chắc hẳn Nga có lý do rất tốt để cho rằng nước này chỉ là đang chăm nom công dân của họ mà thôi. Trong số những nước có quyền lực về thuộc địa thì Nga là một trường hợp đặc biệt. Điều này thể hiện ở chỗ lãnh thổ của nước này thường được mang cho những quốc gia khác trong thời Liên Bang Xô Viết. Nhiều phần lãnh thổ hiện tại của Ukraine có nguồn gốc thuộc về Nga và sau đó được hợp nhất cho Ukraine. Được dùng như những con chốt trong một ván cờ, những vùng lãnh thổ như Crimea và Nonetsk được mang tặng cho những khu vực khác cho mục đích hoặc là làm giàu cho các quan chức của những nước này hoặc là để kiểm soát dân chúng được tốt hơn.

Sau khi Liên Xô tan rã, nhiều cộng đồng thiểu số của Nga bị cô lập bên ngoài quê hương của mình. Hiện tại, một phần thiểu số thuộc một cộng đồng ở nước ngoài vốn đã từng phải sống dưới chế độ cộng sản Nga, những người dân thiểu số này thường bị phân biệt đối xử và gièm pha vì lý do chủng tộc. Ở Ukraine, điều này biểu hiện qua những vụ tấn công của những người Ukraine theo chủ nghĩa dân tộc mới, hậu quả làm hai người chết hồi năm ngoái. Sự phẫn nộ của quần chúng là lực dẫn chính trong việc Nga liên quan đến mâu thuẫn hiện tại.

Chiến lược kiểm soát của Nga

Đây có phải là lý do duy nhất những binh lính của Nga tuần hành bí mật vào miền Đông Ukraine? Hay tại sao bất chấp những cuộc đàm phán hòa bình và đình chiến đã được tuyên bố, cuộc chiến giữa hai nước này vẫn tiếp diễn? Rõ ràng là không phải như vậy.

Từ năm 1993, Nga đã có một thời kỳ áp dụng chính sách ngoại giao hung hăng. Theo cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Andrei Kozyev, chính sách ngoại giao Nga dựa trên cơ sở rằng toàn bộ Liên Bang Xô Viết trước đây là thuộc tầm ảnh hưởng của Nga và duy trì hòa bình cùng với an ninh trong khu vực này là trách nhiệm của Nga. Bất kỳ sự xâm lược nào đến từ nước bên ngoài hay sự mời mọc một nước bên ngoài nào khác nhằm can thiệp vào tầm ảnh hưởng này là không chấp nhận được và sẽ dẫn đến mâu thuẫn. Kết quả là Nga tham gia vào những hoạt động và mâu thuẫn bên ngoài lãnh thổ nước nhà nhằm nỗ lực tự bảo vệ mình khỏi những lực lượng bên ngoài.

Nguyên nhân này dễ thấy qua nhiều mâu thuẫn đã xảy ra xuyên suốt các vùng lãnh thổ trước đây của Liên Xô khi một số nước tiến hành gây chiến với những nước khác. Năm 1993, Nga giật dây khiến Abkhazia mâu thuẫn với Georgia nhằm buộc Georgia phải có những ràng buộc hơn với Nga. Tương tự trong vụ mâu thuẫn giữa Nagorno-Karabakh (Azerbaijan) và mâu thuẫn Transnistria ở Moldova, Nga đã sử dụng đa dạng các loại phương pháp như biểu tình trong nước và quân đội nhằm mục đích hoặc tạo ra hoặc thao túng sự mâu thuẫn mà qua đó họ có thể “đem lại và đảm bảo hòa bình” về sau, cuối cùng là nước đó sẽ hoàn toàn nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga.

Trật tự thế giới mới của Putin

Các yếu tố thuộc về chiến lược này rõ ràng là đã được sử dụng ở Ukraine. Năm ngoái, trước khi mâu thuẫn này xảy ra, 20 đến 40 chiếc xe buýt của những nhà hoạt động Nga đến từ Belgorod, một thành phố gần đó của Nga được mang đi suốt biên giới Ukraine để biểu tình ở Kharkiv. Tuy nhiên, việc sử dụng đến các lực lượng người Nga nhằm chiếm đoạt toàn bộ một vùng, có khả năng là đã gây ra vụ bắn hạ chiếc máy bay MH17 của Malaysian Airlines, và dòng người biểu tình được huấn luyện thường xuyên diễn ra và số lượng vũ khí truyền vào miền Đông Ukraine cho thấy rằng so với những mâu thuẫn khác trước đây thì Nga đang hung hăng hơn rất nhiều đối với trường hợp của Ukraine.

Không giống như những chiến dịch làm suy yếu khác, trong trường hợp này, không hề có một cộng đồng đông người nói tiếng Nga nào, không hề có việc vùng lãnh thổ đó trước đây là của Nga, và cũng không hề tồn tại khả năng Ukraine trở thành mục tiêu do sở hữu các nguồn lực, sức mạnh kinh tế, và vị trí chiến lược để có thể thách thức Nga. Nếu như vậy, Nga chính là đang không hề đùa bỡn, và lý do ở đây là Ukraine hiển nhiên là điểm then chốt trong kế hoạch mới của tổng thống Nga nhằm tạo nên một đế chế kinh tế Âu Á mới.

Năm 2013, Vladimir Putin tuyên bố rằng ông ấy muốn thành lập liên minh kinh tế có thể sánh với Châu Âu và Châu Á, bằng cách sử dụng tất cả các vùng lãnh thổ trước đây của Liên Bang Xô Viết. Dưới sự kiểm soát của Nga, liên minh này sẽ đưa nước Nga trở thành một sức mạnh thao túng toàn cầu, giống như Mỹ và Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngay trong đại bộ phận Ukraine và nhiều nơi thuộc các quốc gia biển Baltic vẫn có rất ít quốc gia có mong muốn tham gia vào một liên minh như vậy. Những người Ukraine ở phía Tây được khích lệ để đưa Ukraine và những quốc gia vệ tinh khác của Nga thuộc vào tầm ảnh hưởng của EU. Mong muốn này nhận được sự đáp lại từ Liên Minh Châu Âu, vốn dĩ đang muốn tận dụng nguồn khí và dầu giá rẻ của những nước này.

Sự bất lực của phương Tây

Có điều không may là những nước mạnh Tây phương không có tiền lệ tốt trong việc hỗ trợ những nước thuộc ảnh hưởng của Nga. Việc thiếu hỗ trợ đối với những nước như Georgia, Armenian, Azerbaijan và Moldova cũng đã chỉ cho Putin thấy rằng trong khu vực của mình thì ông ta có thể cứ làm cái điều mà ông ta thấy vừa ý.

Kết quả, nếu EU và NATO không chuẩn bị để hỗ trợ về mặt quân sự và kinh tế cho Ukraine để đối mặt với những thao túng trong khu vực của Putin, thì Ukraine có thể sẽ bước vào một giai đoạn nội chiến kéo dài chống lại những kẻ giật dây gây rối từ bên ngoài vốn có mặt khắp biên giới nước này. Tình trạng bất ổn định này sẽ sớm đưa những vùng lãnh thổ phía đông rơi vào vòng tay “mẹ Nga”, buộc chính phủ Ukraine phải trao quyền kiểm soát đối với một nửa lãnh thổ ở phía đông của nước này.

Khi làm như vậy, Ukraine có thể sẽ đảm bảo được hòa bình nhưng Nga sẽ lấy được kiểm soát nhiều hơn nữa đối với khoản lợi chênh lệch giữa chi phí khai thác và giá thị trường của dầu và khí đốt; và giúp ông Putin có thể làm nên giấc mơ Đế Chế Âu Á Mới của ông ta.


Victoria Kelly-Clark*


*Tiến sĩ Victoria Kelly-Clark nhận bằng tiến sĩ khoa học chính trị và quan hệ quốc tế từ trường Đại học Quốc Gia Úc (Australian National University). Bà sống ở Trung Á và chuyên môn về nước Nga và những vùng lãnh thổ trước đây thuộc Xô Viết. Để biết thêm thông tin, vui lòng ghé trang blog Central Asia and Beyond

http://centrasiia.blogspot.com.au/.

Quan điểm thể hiện trong bài viết là của riêng tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Epoch Times.

Nguồn: http://vietdaikynguyen.com/v3/42242-tro-choi-quyen-luc-cua-putin/






Thursday, 29 January 2015

Với " Ba không " Việt Nam có chống được Trung Quốc







Việt Nam đã và đang mua tàu ngầm từ Nga về để phòng vệ
Gần đây những bình luận về vấn đề Biển Đông hay nhắc đến lập trường „ba không“ của chính phủ Việt Nam trong đối ngoại.

Với chính sách „ba không“, Việt Nam cam kết là „không tham gia các liên minh quân sự và không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không dựa vào nước nào để chống nước khác“.

Đối với một quốc gia với vị trí chiến lược của Việt Nam, nằm bên lề của những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất thế giới, một vùng có sự chú ý của nhiều cường quốc, chính sách này có cái lý của nó cho mục đích giữ nền độc lập.

Nhưng nếu quốc gia đó cùng lúc lại nằm bên vùng biển với nhiều tranh chấp lãnh thổ nhất hiện nay trên thế giới, với những đảo và vùng biển bị một cường quốc hung hăng đe dọa, liệu chính sách này có còn phù hợp nữa để giữ sự toàn vẹn lãnh thổ?

Chỉ cần nhìn sơ vào thống kê sức lực quân sự của Việt Nam và so sánh với Trung Quốc cũng như các nước khác trong vùng hiện tại đang có những tranh dành về lãnh thổ với Trung Quốc cũng đủ để thấy rằng sự duy trì chính sách „ba không“ là một đường lối mà Việt Nam không thể đi tiếp trong tình huống này.

Mặc dù là một quốc gia với lãnh thổ trải dài dọc vùng biển với diện tích hơn 3.600.000 cây số vuông, lực lượng hải quân Việt Nam cho đến nay không đóng một vai trò quan trọng trong chính sách quốc phòng.

Bảy hộ tống hạm

Hiện nay lực lượng chủ lực của hải quân Việt Nam với khả năng hoạt động trên đại dương bao gồm 7 chiếc hộ tống hạm.

Trong đó có hai chiếc hộ tống hạm „Đinh Tiên Hoàng“ (HQ 011) và „Lý Thái Tổ“ (HQ 012) là những chiến hạm lớn nhất và tân tiến nhất của hải quân Việt Nam. Năm chiếc còn lại thuộc về hạng hộ tống hạm nhẹ hạng Petya III được đóng trong thập niên 70, giờ đây được xem là lỗi thời và không phải là đối thủ của những chiến hạm tối tân của Trung Quốc.

Đài Loan có không quân hùng hậu hơn Việt Nam

Ngoài ra còn có 6 tuần duyên hạm nhỏ, có trang bị hỏa tiễn tối tân.

Nhưng những tàu này lại không có khả năng hoạt động biệt lập lâu ngoài khơi.
Ngoài ra từ đầu năm 2014 Việt Nam cũng có được hai chiếc tàu ngầm tối tân. Đó là chiếc „Hà Nội“ (HQ 182) và chiếc „TP Hồ Chí Minh“ (HQ 183).

Với lực lượng hải quân như thế Việt Nam chỉ mạnh hơn Phi Luật Tân. Các nước trong vùng hiện đang có những tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc như Đài Loan, Nam Hàn và Nhật đều có những lượng hải quân hùng hậu hơn nhiều.

Sự yếu đuối trên biển cũng được phản ảnh trên bầu trời. Không quân Việt Nam hiện nay, theo như ước lượng của viện nghiên cứu International Institute for Strategic Studies (IISS) ở Anh Quốc, có khoảng 97 chiến đấu cơ bao gồm các loại MiG-21, Su-22, Su-24 và Su-30.

Trong khi 24 chiếc Su-30 và 11 chiếc Su-24 mua từ năm 2004 được xem là cột trụ của lực lượng bảo vệ không phận, thì đa số máy bay còn lại thuộc vào loại MiG-21 và Su-22 đã quá lỗi thời và không biết bao nhiêu còn sử dụng được.

Trung Quốc hiện có ba hạm đội và một đội tàu ngầm lớn

Để trả lời câu hỏi lực lượng không quân Việt Nam có đủ khả năng để bảo vệ đất nước và biển đảo hay không, chỉ cần so sánh: Đài Loan, với một diện tích chỉ bằng khoảng 1/9 của Việt Nam, lại có một lực lượng không quân gồm khoảng 400 chiếc chiến đấu cơ phản lực tối tân!

Trong khi đó, lực lượng hải quân của Trung Quốc được chia ra ba hạm đội, đó là hạm đội Bắc hải, hạm đội Đông hải và hạm đội Nam hải. Hạm đội Nam hải là lực lượng kiểm soát vùng Biển Đông, và là đối thủ trực tiếp của hải quân Việt Nam trong những cuộc xung đột trong quá khứ và tương lai.

Theo tài liệu của bộ quốc phòng Mỹ năm 2014 thì lực lượng tác chiến của hạm đội này bao gồm 17 tàu ngầm, 8 khu trục hạm, 18 hộ tống hạm và 33 tuần duyên hạm. Một lực lượng vô địch trên Biển Đông, và là một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm cho lãnh hải Việt Nam với một căn cứ lớn ở Yalong phiá nam đảo Hải Nam.

Ngoài ra trên đảo Hải Nam còn có hai sư đoàn không quân với khoảng 200 chiếc chiến đấu cơ tối tân đe doạ không phận trên biển của Việt Nam.

Với sự chênh lệch quân lực như vậy, nếu Việt Nam duy trì cái gọi là chính sách „ba không“ thì sẽ không thể nào tránh khỏi sự mất mát biển đảo.

Câu hỏi cũng đuợc đặt ra là Việt Nam sẽ làm gì nếu Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận diện phòng không (Air Defense Identification Zone) trên Biển Đông?

Khi Trung Quốc tuyên bố điều này đối với không phận trên các đảo đang tranh chấp với Nhật mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Diaoyu, Nhật và Mỹ lập tức phế bỏ điều đó và đã cho không quân đi tuần trong khu vực đó. Trước thái độ cứng rắn của hai nước đồng minh này, Trung Quốc đã phải nhượng bộ và đã không kiên quyết thi hành những biện pháp đã đe dọa.

Liệu chính phủ Việt Nam cũng sẽ có đủ bản lãnh để phản ứng như thế không? Nhưng dù có đi nữa, có thể là không quân Việt Nam cũng không đủ khả năng để thực hiện một chiến dịch như Nhật đã làm.

Việt Nam không thể đơn thân đối đầu với Trung Quốc, nếu muốn bảo vệ lãnh thổ. Việt Nam phải chỉnh sửa chính sách „ba không“.

Nhưng chỉnh sửa ra sao?

Hoa Kỳ đã rời Subic thì vào Cam Ranh làm gì?

Tham gia một liên minh quân sự để chống Trung Quốc thì không nên vì đó sẽ là một khiêu khích đối với Trung Quốc. Và cũng không có liên minh nào trong vùng để theo. Để cho nước khác – đó chỉ có thể là nước Mỹ thôi – đóng quân tại Việt Nam cũng không được vì cùng lý do.

Và cũng chẳng có nước nào muốn đóng quân tại Việt Nam để bị rơi vào vai trò phải làm thần hộ mệnh cho Việt Nam để chọi với Bắc Kinh. Thêm nữa, Mỹ đã bỏ Subic Bay, vậy thì vào Cam Ranh để làm gì?

Chỉ còn giải pháp là tựa vào một hoặc nhiều nước để giữ cân bằng với Trung Quốc. Hiện nay trong vùng Đông Á Thái Bình Dương chỉ có hai cường quốc Việt Nam có thể đến để thực hiện chiến lược này, đó là Mỹ và Ấn Độ.

Thái độ của Mỹ về Biển Đông hiện rất thuận lợi cho Việt Nam. Chính phủ Obama cũng đã lên tiếng hỗ trợ các quốc gia láng giềng của Trung Quốc trong tranh chấp hải phận.

Tháng Hai 2014, Mỹ đã chính thức phủ nhận tính cách hợp pháp của cái „bản đồ 9 đoạn“ khi Thứ trưởng ngoại giao Daniel Russel tuyên bố trước ủy ban ngoại vụ của quốc hội Mỹ rằng, sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong Biển Đông là „không phù hợp với các điều luật quốc tế“.

Chính phủ Mỹ bắt đầu lo âu vì xu hướng ngày càng bành trướng của Trung Quốc. Những hành động của Trung Quốc đã gây xôn xao tại các nước đồng minh của Mỹ và là một yếu tố gây ra rủi ro cho nền kinh tế của vùng châu Á Thái Bình Dương.

Chính phủ Mỹ sẽ không bao chấp nhận để Trung Quốc kiểm soát những tuyến đường hàng hải trên Biển Đông và để những mạch máu dẫn đến Nhật, Nam Hàn và ngay cả miền Tây nước Mỹ chạy qua hải phận Trung Quốc.

Mỹ sẽ can thiệp nhiều hơn trong sự tranh chấp lãnh hải này, thứ nhất là để ngăn ngừa một sự xung đột bạo lực, thứ nhì là để giữ uy tín của các đồng minh tại châu Á.

Phát triển thuận lợi

Việt Nam phải tận dụng điều này. Mối liên hệ Mỹ Việt đang phát triển thuận lợi. Ngoài sự bang giao về chính trị và kinh tế, những bước đầu tiến tới bình thường hóa quan hệ quân sự hai bên cũng đã được tiến hành. Hơn nữa, nếu bang giao tốt đẹp, Việt Nam có thể được cơ hội mua vũ khí tinh vi của Mỹ như tàu chiến hoặc máy bay.

Việt Nam cũng phải liên kết nhiều hơn với các nước trong vùng như Ấn Độ, Nhật và Nam Hàn. Họ cũng lo ngại và bất bình với thái độ ngang ngược của Trung Quốc. Nếu tạo được một sự thoả thuận với các nước ven Biển Đông về quyền sử dụng biển, thí dụ như theo hiệp ước UNCLOS, thì sự tranh chấp sẽ biến thành một sự phân chia trên căn bản pháp lý quốc tế.

                                           Hoa Kỳ đang có thái độ thuận lợi với Việt Nam

Đó không phải là một điều bất lợi cho Việt Nam. Và nếu Việt Nam đạt được một sự bắt tay chặt chẽ với các nước trong vùng, đặc biệt là với Nhật và Nam Hàn, cả hai nước này đều nằm sát biển với Trung Quốc và hiện đang có những tranh chấp về biển với Trung Quốc, thì việc lấn ép ngang ngược sẽ khó khăn hơn cho Bắc Kinh vì Trung Quốc có thể bị cô lập trên chính trường ngoại giao.

Một liên minh như thế cũng có thể tạo áp lực cho Bắc Kinh phải ngồi vào bàn tròn đàm phán tìm giải pháp.

Năm 2015 sẽ phải có một biến chuyển trong chính sách ngoại giao và an ninh của Việt Nam. Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam thường dèm pha quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng quân đội VNCH đã đổ máu để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Nhà cầm quyền hiện tại chưa chứng minh cho dân tộc và lịch sử là họ xứng đáng để được đứng cùng hàng với Việt Nam Cộng Hòa trong vấn đề này.

Nguyễn Xuân Vinh







Wednesday, 14 January 2015

Thoát Trung Luận






Hồi tháng 6/2014, tôi tiếp xúc với 1 chuyên gia kinh tế đáng kính. Tôi cho rằng ở Việt Nam bây giờ chỉ có người này là đáng kinh và có trình độ thực sự. Nói chuyện với nhau cả tiếng đồng hồ, và cũng bàn quanh chuyện làm sao để GO WEST Foundation thực hiện được nhiệm vụ của nó? 

Chuyên gia kinh tế này giờ đã lớn tuổi, nhưng mỗi ngày làm việc từ 18 - 20 giờ đồng hồ, chỉ vì thực hiện nổ lực cho một đề tài lớn: "Làm sao để thoát sự lệ thuộc kinh tế Trung Hoa?". Vấn nạn Việt nam hôm nay là nguy cơ mất nước từ vấn nạn lệ thuộc Trung Hoa.

Theo tôi, không phải lãnh đạo Việt Nam không biết, không hiểu những gì nền kinh tế chính trị Việt đang yếu kém. Nhưng hiện tình Việt Nam đang bị mắc vào một cái bẫy lớn với Trung Hoa sau Hội nghị Thành Đô 1990 là: bị phụ thuộc cả chính trị và kinh tế. Để thoát ra khỏi sự phụ thuộc này là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nổ lực của cả dân tộc và của cả đảng cầm quyền hiện nay. Vì sự phụ thuộc hiện nay đã hình thành từ 25 năm chứ không phải chỉ một ngày hay một tháng.

Sự lệ thuộc vào kinh tế Trung Hoa vì hàng giá rẻ không chỉ một vài nước bị như Việt Nam, mà ngay cả Hoa Kỳ cũng bị lún vào tình trạng này, nếu các bạn có đi Hoa Kỳ và vào những siêu thị lớn và nhỏ như Costco hay Walmart etc, các bạn sẽ thấy tràn ngập hàng tiêu dùng có nhãn Made in China, nhưng hàng có chất lượng tốt, mà giá cực rẻ.

Khác với Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Việt Nam có một biên giới dài ở phía Bắc giáp với Trung Hoa. Lại thêm hông sườn Tây có Lào và Cambodia yếu kém có thể ngã về Trung Hoa, khi Trung Hoa sử dụng chiêu bài kinh tế và văn hóa để chiêu dụ. Nên việc thoát Trung Hoa vô cùng khó khăn, nếu chính quyền Việt Nam không đoàn kết và đồng lòng.

Khó khăn nữa là, với chính quyền Việt Nam hiện nay là chưa có 1 lãnh tụ xứng tầm, để có đủ về cả uy tín và tài năng tập hợp lực lượng quanh mình nhằm làm việc Thoát Trung Hoa.

Việc Thoát Trung Hoa là việc cần làm cấp kỳ và ưu tiên số một. Trong tiến trình Thoát Trung Hoa có 2 vấn đề là Thoát kinh tế và Thoát chính trị. Kinh tế là chính trị, nên mới có môn kinh tế chính trị học là vậy. 

Về chính trị

25 năm sau hội nghị Thành Đô, bên Trung Hoa đơn nguyên tập quyền đi theo màu sắc Trung Hoa, thì Việt Nam cũng đơn nguyên tập quyền đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ khác nhau ngôn ngữ, chơi chữ với nhau, thực chất là rập khuôn Trung Hoa.

Rập khuôn chính trị đơn nguyên tập quyền chưa đủ, Việt Nam còn rập khuôn cả sở hữu công mà Trung Hoa đang sử dụng. Một đất nước muốn lớn mạnh cần phải giải phóng hết tiềm năng của con người. Muốn giải phóng được tiềm năng của con người thì phải có nền chính trị công nhận và khẳng định sở hữu riêng tư từ trí tuệ đến lao động giản đơn, và cả vật chất, của cải họ làm ra.

Tôi không thể làm lụng suốt đời để nua 1 mảnh đất, xây 1 căn nhà mà tôi chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền sở hữu nó. Trong khi đó, mảnh đất mà có căn nhà của tôi đã mua và xây dựng đó có thể bị chính sách bứng đi lúc nào cũng được, mà tôi không có quyền định đoạt. Tôi cũng không thể sáng kiến phát minh để rồi sáng kiến phát minh đó tôi không được bảo vệ về quyền lợi cho riêng mình.

Một nền chính trị đơn nguyên không có bộ lọc là miền đất cho độc tài và tham nhũng nảy mầm tốt. Rồi chính độc tài và tham nhũng sẽ là yếu tố làm phá tan luật pháp, suy yếu quốc gia. Họa mất nước dưới tay Trung Hoa cũng từ nền chính trị đơn nguyên tập quyền mà ra.

Một nền chính trị đơn nguyên có mặt hầu hết các ngành nghề tronhg xã hội, nhưng không thúc đẩy các ngành nghề mà phát triển, giải phóng sức lao động và sáng tạo, mà chỉ để rình mò người dân và xem dân là kẻ bị trị, thậm chí là thế lực thù địch, dù chỉ là tư duy cấp tiến và khai phóng.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền bóp chết nền giáo dục, thì không thể tạo ra nhân tài phục vụ cho đất nước. Một nền chính trị tốt là nền chính trị phải tạo ra một nền giáo dục tự chủ và khai phóng tư tưởng mới làm ra nhân tài và sáng tạo.

Một nền chính trị đơn nguyên đến giai đoạn thoái trào, nên đã đẻ ra một bộ máy cồng kềnh để bao vệ ngai vàng cho giai cấp cầm quyền. Nó ngốn tiền chính sách quá lớn, buộc phải đẻ ra chính sách để khoan sức dân bằng bao nhiêu thuế, phí đè lên người dân trong khi nền kinh tế đang suy thoái cũng vì chính trị yếu kém.

Muốn thoát Trung Hoa phải thoát ra khỏi nền chính trị đơn nguyên và tập quyền, để hình thành một thể chế giải phóng sức dân và tư liệu sản xuất có luật pháp nghiêm minh. Từ đó, mới có một quốc gia tự lực, tự cường như Hàn Quốc, Đài Loan đủ sức để sống bên cạnh Trung Hoa.

Về kinh tế

Nền chính trị đơn nguyên và sở hữu cong tư liệu sản xuất đã làm cho nền kinh tế ngày càng yếu kém. Do nền chính trị đơn nguyên đã làm phá vỡ quy luật cung cầu, và cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế thị trường. Sau 25 năm năm cởi trói, nền kinh tế Việt Nam sao y bản chính kinh tế Trung Hoa - bán tài nguyên và sức lao động để sống, cộng thêm lượng kiều hối của Việt kiều gửi về là chính.

Tăng trưởng kinh tế 25 năm sau cởi trói bản chất là nhờ vào đổi tài nguyên, môi trường và đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng. Bài học kinh tế này được sao y bản chính từ Trung Hoa thời Giang Trạch Dân. Hậu quả của nó hôm nay cả Trung Hoa và Việt Nam đang trong tình trạng nợ công vì đóng băng bất động sản. Nhưng Trung Hoa là một thị trường lớn 1,4 tỷ dân, có một nền công nghiệp phụ trợ vững mạnh, các đại học Trung Hoa được khai phóng hơn Việt Nam, nên bài toán của Trung Hoa dễ giải hơn Việt Nam.

Trong khi đó, Việt Nam thì công nghiệp phụ trợ cho đến nay là con số không tròn trĩnh. Vì không có sáng kinh và phát minh làm ra sản phẩm.

Sản xuất để xuất khẩu của Việt Nam chỉ là gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoại trừ những gì người nông dân và ngư dân làm ra.

Doanh nhân Việt Nam đa phần làm dịch vụ - cò mồi. Một số rất ít doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mang tính thủ công và công nghiệp nhẹ. Từ tư duy cò mồi đó, sản sinh ra một văn hóa doanh nhân Việt chỉ làm ăn chụp giật, ngắn hạn, lừa đảo, đến nỗi ngay cả những doanh nhân đang là quan lớn của đảng cầm quyền cũng làm ăn chụp giật và lừa đảo, mà tìm kiếm một doanh nghiệp có tính vững bền như tìm sao trên trời giữa ban ngày.

Muốn thoát Trung Hoa về kinh tế, nếu là doanh nghiệp thì không tiếp tay nhập lậu hàng dõm của Trung Hoa vào Việt Nam, mà phải xuất hàng Việt Nam sang Trung Hoa nhiều hơn nữa, và chọn lựa hàng tốt của Trung Hoa để nhập về.

Nhiệm vụ của doanh nghiệp còn có nhiệm vụ phải phát triển hệ thống công nghiệp phụ trợ, và sản xuất hàng tiêu dùng cho xã hội với chất lượng tốt.

Doanh nghiệp cần có văn hóa hợp tác với các đại học và viện nghiên cứu để tài trợ thúc đẩy khoa học kỹ thuật nước nhà phát triển đi đến tự lực các mặt hàng tiêu dùng trước mắt, và tương lai là khoa học công nghệ phát triển. Đỉnh cao của văn hóa doanh nhân là hiến tặng tài sản cho các trường đại học nghiên cứu, làm ra sáng tạo phục vụ cộng đồng, ở Việt Nam chưa bao giờ có. Ngay bây giờ phải cần tạo dựng, thay vì xây đền đài chùa chiền để buôn thần bán thánh, tư lợi.

Bên cạnh cải tạo doanh nghiệp, cần phải cho dân tiêu dùng cần chọn lọc hàng Trung Hoa mà dùng chứ đừng thấy rẻ mà lợi bất cập hại. Bản thân tôi đã từng dùng quần sooc sản xuất ở Trung Hoa, nhưng cùng 1 sản phẩm sản xuất ở Trung Hoa thì mua ở Việt Nam thì mặc bị dị ứng ngứa khắp người, trong khi đó, quần mua ở Hoa Kỳ cũng sản xuất ở Trung Hoa thì không bị dị ứng. Điều này cho thấy, không phải sản phẩm nào của Trung Hoa cũng xấu, mà xấu là do doanh nghiệp nhập hàng từ Trung Hoa không có đạo đức.

Cái nhìn Thoát Trung sau hội nghị trung ương 10 khóa XI

Tổng kết hội nghị trung ương đảng cầm quyền khóa XI hôm 12/01/2015 vừa qua, kết luận của tổng bí thư là, hội nghị thống nhất đổi mới chính trị, không phải thay đổi chế độ. Trong đó, bản chất của đảng và nhà nước cầm quyền là không thay đổi, đảng cầm quyền độc quyền thông tin truyền thông và quân đội.

Chế độ được định nghĩa là chỉnh thể chính trị, kinh tế, văn hoá hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định. Chế độ hiện nay là được hình thành do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam nội chiến sau bị đô hộ trăm năm của người Pháp.

Lịch sử thế giới và nước Việt từ khi có con người cho thấy rằng, dù là bất kỳ chế độ nào đi nữa, thì cũng phải vì quốc gia và dân tộc. Quốc gia dân tộc là trường tồn và vô hạn, chế độ là nhất thời và hữu hạn. Bảo vệ tổ quốc và dân tộc mới là mục tiêu chân chính của một chế độ, chứ không phải bảo vệ chế độ là mục tiêu tối hậu. Một đảng phải chỉ biết bảo vệ chế độ do đảng ấy lập ra thì chắc chắn đảng phái chính trị ấy sẽ mất lòng dân và sụ đổ.

Chế độ hiện tại là chế độ sao y bản chính từ Trung Hoa như đã trình bày, thế thì đổi mới chính trị là đổi mới cái gì? Không thay đổi chề độ thì làm sao thoát Trung Hoa, và làm sao để tự lực tự cường?

Chính trị là một nghệ thuật của sự có thể. Chính khách lưu danh sử sách là chính sách sử dụng nghệ thuật này hiệu quả nhất cho quốc gia và dân tộc, chứ không phải loại chính khách bảo vệ chế độ để phục vụ cho quyền lợi cá nhân và nhóm quyền lợi của đảng cầm quyền.


Hồ Hải

Thursday, 8 January 2015

Mỹ rước vạ nếu cố ép tổng thống Putin từ chức






Một trong những chính sách thù địch của Mỹ với Nga trong thời gian qua là bao vây kinh tế. Mũi nhọn đánh vào Nga là giảm giá dầu, mặt hàng xuất khẩu chính của Moscow. Mục đích của Mỹ là khiến Nga khủng hoảng kinh tế và tổng thống Putin phải ra đi trước áp lực.

Nếu Mỹ ép quá, Iran sẽ làm liều?


Tuy nhiên, đó là suy nghĩ ngây thơ. Trên Bloomberg, chuyên gia Stanley Byron Wien đã dự đoán rằng phương Tây có thể khiến giá dầu sẽ giảm xuống mức dưới 40 USD mỗi thùng để đánh Nga “quỵ” rồi sẽ tính cách để phục hồi giá dầu lên mức hơn 70 USD một thùng.

Chắc chắn giá dầu giảm sẽ khiến kinh tế Nga gặp khó khăn và giá dầu giảm cũng khiến nền tài chính Mỹ chông chênh khi các hãng bảo hiểm đang phải è cổ trả thâm hụt tài chính của các hãng khai thác dầu.

Nhưng trong cuộc thi lặn xem ai chịu đựng được giá dầu thấp không chỉ có Nga và Mỹ mà còn có nhiều quốc gia khác. Nước Anh vốn là nhà sản xuất dầu hàng đầu châu Âu cũng khốn đốn khi không bù đắp được chi phí khai thác dầu ở biển Bắc. Và nguy hiểm nhất là Iran.

Bản thân Iran cũng rất khó khăn trong trạng thái bình thường do bị lệnh trừng phạt kinh tế do Mỹ phát động liên quan đến việc phát triển hạt nhân. Tuy nhiên, Iran trước đây còn thở được là nhờ xuất khẩu dầu sang một số nước xung quanh, đặc biệt là Trung Quốc.

Tuy nhiên, khi giá dầu sụt giảm thì Iran sẽ không còn nguồn thu nào khác nữa và sẽ dẫn đến áp lực rất lớn lên chính quyền ở đây. Với Nga, dù kinh tế khó khăn nhưng họ là một nền sản xuất lớn nên vẫn có thể tự cung cấp cho nhu cầu trong nước.

Và khi Iran bị dồn ép quá mức thì điều gì sẽ xảy ra? Ông Wien cho rằng Iran sẽ quay trở lại chương trình vũ khí và xới tung Trung Đông lên. Đây không phải là chuyện quậy phá cho bõ tức mà là chiến lược để giải quyết khi bế tắc.

Một cuộc chiến tranh với Israel là điều Iran chưa bao giờ giấu diếm. Nếu bị ép vào chân tường thì chính quyền Iran có thể phát động một cuộc chiến như vậy nhằm giải quyết 2 chuyện. Thứ nhất, hướng sự chú ý của dư luận trong nước ra bên ngoài. Thứ hai là khi Trung Đông có chuyện thì giá dầu sẽ tăng vọt trở lại. Cũng vì lý do thứ hai mà nhiều nước bị ảnh hưởng bởi giá dầu thấp sẽ thích thú với chuyện Trung Đông có chiến tranh.

Một khi Iran khai hỏa, thùng thuốc nổ Trung Đông sẽ bùng cháy và hậu quả không thể lường hết. Khi đó dù Mỹ có chi hết ngân sách quốc phòng cũng không dập nổi ngọn lửa ở đây.


Anh Tú (theo Bloomberg)




Ai hội đủ điều kiện chèo lái con tàu Việt Nam?






Cho đến thời điểm này chưa có bất kỳ một lực lượng nào có thể thay thế được đảng cầm quyền tại Việt Nam để cai quản quốc gia. Nên bài viết cũng chỉ giới hạn trong lực lượng này để ngậm ngải tìm trầm.


Vài nét nhiệm kỳ XI

Nếu ai từng theo dõi tình hình kinh tế và chính trị nước Việt trong gần 4 năm qua, đến hôm nay nhiệm kỳ XI của đảng cầm quyền xem như hoàn toàn thất bại trong điều hành kinh tế và bộ máy chính trị trong cai quản đất nước. 

Kinh tế hơn nửa nhiệm kỳ đầu của lần thứ XI là lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá, thiểu triển, vì bất động sản đã bảo hòa, và đóng băng chưa thấy ngày trở lại, khoảng cách giàu nghèo gia tăng. Luật pháp biểu hiện sự bất lực trong chính hệ thống điều hành, tham nhũng thành quốc nạn. Về chính trị thì lắm rối ren biểu hiện rõ nhất trong kỳ hội nghị trung ương lần thứ 6, năm 2013. 

Hầu như cả nhiệm kỳ XI này, công việc của lãnh đạo chỉ quanh đi quẩn lại chỉ là chuyện nội bộ lãnh đạo đang rối trong mọi vấn đề. Về xã hội thì đạo đức xuống cấp, giáo dục mất phương hướng, giềng mối gia đình đổ vỡ. Lòng tin người dân hầu như không còn, ngoại trừ nhóm có quyền lợi trong cầm quyền vì chén cơm manh áo cá nhân của họ. Đối ngoại quá nhiều vấn đề sóng gió với Trung Hoa trong chính trị, trên biên cương lãnh thổ và trong kinh tế giao thương hầu như lép vế và lệ thuộc. 

Những bức thiết cần phải thoát ra sự phụ thuộc về kinh tế và chính trị với Trung Hoa là điều phải làm từ nhiệm kỳ thứ XII. Chính vì thế, để đi tìm nhân lực lãnh đạo đất nước từ đảng cầm quyền trong một thể chế đơn nguyên, tập quyền như Việt Nam hiện nay là điều vô cùng quan trọng và khó khăn.

Chính vì thế, nhiệm kỳ XII của đảng cầm quyền ở Việt Nam đòi hỏi một nhiệm vụ lớn lao như là một cuộc cách mạng xã hội cho một giai đoạn mới. Năm 2016, nếu đánh giá đúng thì là năm bản lề cũng giống như năm 1989 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Thế giới đang thay đổi đến chóng mặt. Mới ngày nào Nga hùng cường sau sụp đổ nhờ giá dầu cao, nhưng chỉ 3 tháng đã trở thành quốc gia nghèo. Trung Hoa vẫn tăng trưởng nhưng đóng băng bất động sản, nợ công, và tham nhũng đang làm chao đỏa chế độ. Hoa Kỳ suy trầm kinh tế nợ công ngập đầu, nhưng chỉ với 6 năm đã phục hồi mạnh mẽ. Xoay trục Thái Bình Dương của Hoa Kỳ sau 40 năm bỏ sang Trung Đông là cơ hội và thách thức cho nhà lãnh đạo mới của Việt Nam.

Hôm 05/01/2015 đảng cầm quyền ở Việt Nam họp hội nghị lần thứ 10 của nhiệm kỳ XI. Hội nghị sẽ kéo dài đến ngày 12/01/2015. Lẽ ra, hội nghị này đã được tổ chức trước khi kết thúc năm 2014, nhưng vì nhiều lý do quốc nội và đối ngoại, nên phải dời lại đầu năm 2015. Nó cho thấy, hội nghị 10 lần này rất quan trọng, mặc dù, từ đây cho đến đại hội đảng lần thứ XII vào năm 2016 có thể còn ít nhất 3 đến 4 kỳ hội nghị nữa. 

Như đã nói ở trên, quan trọng bật nhất là thảo luận để tìm ra một bộ máy đứng đầu đất nước cho nhiệm kỳ XII, trong đó nhân vật cầm đầu là vô cùng khó trong bối cảnh nhân lực lãnh đạo Việt Nam trong vài thập niên gần đây. Như vậy, nhân vật cầm đầu cho lãnh đạo Việt Nam trong nhiệm kỳ tới cần hội đủ những điều kiện gì?

Về tư duy triết học

Theo quy luật mâu thuẫn trong Triết học thì: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi cái mới ra đời."

Trong 1 tổ chức độc tài cầm quyền ở các quốc gia theo hình thái xã hội đơn nguyên tập quyền cũng không tránh khỏi mâu thuẫn nội tại. Tình hình chính trị Việt Nam hiện nay và trong quá khứ cũng không tránh khỏi mâu thuẫn nội tại tranh ngôi đoạt vị ăn chia.

Trong mâu thuẫn có 2 loại không đối kháng và đối kháng 1 mất 1 còn.

Khi mâu thuẫn nội tại trở thành mâu thuẫn đối kháng một mất, một còn, không thể thỏa hiệp và thống nhất ăn chia được nữa thì cũng giống như Liên Xô và Đông Âu, tự họ sẽ giết họ.

Thế thì thời điểm nào tự cộng sản sẽ tự giết mình?

Một đặc điểm chung của các quốc gia theo cộng sản là chỉ biết bán tài nguyên để ăn. Khi tài nguyên cạn kiệt, đó là lúc không còn gì để ăn chia nữa, cũng là lúc cộng sản tự xâu xé lẫn nhau, và sụp đổ, vì mâu thuẩn đối kháng xuất hiện đóng vai trò chủ chốt của tiến trình đấu đá ăn chia. Việt Nam giờ thì rừng đã hết, biển đang đe dọa mất do Trung Hoa, hầm mỏ của đã cạn, quỹ đất các thành phố không còn, giờ chỉ còn tài nguyên vô tận là con người Việt hơn 90 triệu, với khoa học kỹ thuật để đưa đất nước đi lên mà thôi. Nếu không thức tỉnh để có một sự thay đổi tư duy thì ắt cái gì đến phải đến.

Nên nhà lãnh đạo Việt 2016 phải có tư duy đổi mới triệt để, chứ không cởi trói như giai đoạn 1990 được.

Về đối nội

Nhà lãnh đạo tối cao nước Việt nhiệm kỳ tới về đối nội đòi hỏi phải đáp ứng những yếu tố tối quan trọng sau đây:

Phải tập hợp được lực lượng quanh mình. Muốn làm cách mạng xã hội cho bất kỳ một thời kỳ nào của một đất nước điều kiện cần là người lãnh đạo ấy phải có lực lượng đông đảo ủng hộ mình. Lực lượng ấy không chỉ trong dân, mà quan trọng nhất là trong đảng cầm quyền ở một hình thái chính trị đơn nguyên tập quyền như ở Việt Nam hiện nay.

Dĩ nhiên, lực lượng này phải đủ tài năng và đức độ để đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu bức thiết mà nước Việt đặt ra trong một thời kỳ mới chuyển tiếp. Việt Nam hiện nay không thiếu người tài, vấn đề là việc sử dụng những người đức độ nhất trong số những người tài đó.

Phải nắm kinh tế đất nước nói chung và kinh tế gia đình nói riêng. Làm chính trị trước tiên phải giàu, không chỉ giàu, mà phải giàu vào bậc nhất xã hội. Nếu không giàu có thì mọi ước muốn tốt đẹp của chính trị gia sẽ là ảo tưởng. Lịch sử Việt Nam và thế giới, mọi cuộc cách mạng vô sản đều đi đến chỗ tha hóa, tham nhũng và đẩy đất nước trở lại độc tài, tàn ác, dù lý tưởng trước đó là rất "tốt đẹp"!

Khác với một xã hội đa nguyên tản quyền, kinh tế cá nhân chỉ cần trung lưu thì một chính khách yêu nước, có tài, có đức có thể đứng ra lãnh đạo quốc gia. Vì mọi đường lối chính sách ở xã hội này đều có bộ lọc của đa nguyên kiểm tra chặt chẽ.

Với một xã hội đơn nguyên tập quyền như Việt Nam, ngoài có tài, có đức, có lòng yêu nước, thì người lãnh đạo cần phải giàu có đến độ không còn muốn làm giàu nữa, thì mới không rơi vào tha hóa và tham nhũng! Vì chính sách, chi tiêu cho chính sách và thực thi chính sách ở một xã hội đơn nguyên tập quyền đề chính do lãnh đạo làm ra, mà không có bất kỳ một bộ lọc nào kiểm tra nó.


Phải có đủ quyền hành để cải cách thể chế. Đây là điều kiện không có không được, vì tất cả các hệ lụy của Việt Nam trong 40 năm qua vẫn còn nhược tiểu và thụt lùi hơn cả Campuchea và Lào là từ thể chế chính trị mà ra. Thể chế chính trị đúng thì lòng tin người dân sẽ được

Về đối ngoại

Người đó phải có những yếu tố sau đây hội thành để tạo ra một tiền lệ tốt trong tương lai.


Phải có khả năng bang giao đa điện, được với cả hai phe cánh ta và cánh hữu của thế giới. Dĩ nhiên cả với khối trung dung không liên kết. Phải quan hệ tốt với Hoa Kỳ và phương Tây, nhưng cũng phải được lòng tin của Trung Hoa, Nga và cả Ấn Độ là điều cực kỳ quan trọng cho Việt Nam trong thời kỳ sau 2016.

Với Hoa Kỳ và phương Tây thì cần phải có sẵn nền tảng cũ được tin cậy. Ngoài ra, cải cách thể chế từng bước để tạo lòng tin đi đến hợp tác chiến lược toàn diện, nhằm tạo sức mạnh đa phương trong cục diện khu vực Trung Hoa đang bành trướng trong màu sắc "hòa bình" của họ ở biển Đông và khu vực.

Với Trung Hoa thì chúng ta không thể di dời địa chính trị của chúng ta đi nơi khác. Nên cần phải có sách lược phù hợp như Miến Điện đã làm trong 3 năm qua. Với Nga, ân tình cũ không nên bỏ, nhưng cũng phải hiểu rằng, ngay cả thân của nước Nga cũng đang không tự lo nổi, thì nếu có sự kiện Trung Hoa chiến 7 đảo bãi đá ngầm Trường Sa 1988 lần nữa, thì dù Nga đang đóng quân ở cảng Cam Ranh và tàu chiến của họ có mặt ở biển Đông, thì họ cũng sẽ tiếp tục làm ngơ để mất.

Nên nhớ rằng, lịch sử đã chứng mình là không có quốc gia nào muốn từ bỏ thị trường 1,4 tỷ dân của Trung Hoa để lo cho Việt Nam khi Trung Hoa có xâm chiếm Việt Nam.

Kết

Trong 16 vị đứng đầu trong bộ chính trị Việt Nam hiện nay, ai có thể có hội đủ những điều kiện trên đây một cách tạm được, để đứng ra nhận lãnh trách nhiện có tính lịch sử Việt Nam trong giai đoạn mới? Theo tôi, chỉ có một, nhưng để đặt lòng tin vào người đó có đủ năng lực, và quyết tâm thực hiện thì chỉ chờ thời gian và lịch sử trả lời.


Bs: Hồ Hải
(Tiêu đề do chủ blog đặt lại)



Wednesday, 7 January 2015

Nỗi lo Việt Nam, tương lai Cu Ba.





Việt Nam khỏi lo ‘sắp mất Cuba’



Tin Hoa Kỳ và Cuba sắp bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau hơn nửa thế kỷ thù địch được người Việt thuộc nhiều xu hướng quan tâm đặc biệt. Các diễn đàn mạng đều chú ý vào câu hỏi tương lai Cuba sẽ ra sao. Phái dân chủ thì hy vọng ‘hội nhập’ sẽ giúp Cuba tự do hơn, và đấy sẽ là một ví dụ tốt cho Việt Nam tương lai. Tuy thế, có người lo Hoa Kỳ nhẹ tay giúp Havana mở cửa sẽ không đem lại dân chủ, tự do cho dân Cuba mà chỉ giúp chế độ của hai anh em ông Fidel và Raul Castro trụ lâu hơn. Phái còn mặn nồng tư duy xã hội chủ nghĩa thì lo ‘ta mất Cuba về tay Mỹ’ rồi chăng. Giống như vậy, hồi năm 1989 nhiều cán bộ ở Hà Nội, nhất là các cụ hưu khi nghe tin Công đoàn Đoàn kết tham gia cầm quyền cũng từng băn khoăn ‘sắp mất Ba Lan’.


Khi sang Warsaw học và kể lại câu chuyện đó tôi đã khiến nhiều bạn Ba Lan vô cùng ngạc nhiên. Họ lấy làm lạ vì Việt Nam chỉ là nước ‘ăn theo’ con đường xã hội chủ nghĩa và chắc hiểu biết rất ít chuyện châu Âu nên mới lo lắng không đâu như vậy. Cảm giác ‘mất mát’ chỉ phản ánh nỗi sợ cô đơn sau thời ‘Hai phe bốn mâu thuẫn’ hoặc sự thiếu tin tưởng rằng người dân các nước sẽ quyết định tương lai của chính họ.

Với Cuba ngày nay, theo cảm quan của tôi, tình cảm của một số bạn Việt Nam dành cho người Cuba cũng chỉ là đơn phương. Tiếp xúc với một số bạn Cuba từ thời sinh viên đến hiện nay ở BBC, tôi thấy họ thân thiết hơn cả với dân các nước cùng nói tiếng Tây Ban Nha, chứ không phải Việt Nam. Họ có thể nghe nói nhiều về Việt Nam thời chiến tranh nhưng nếu có quý mến người Việt thì cũng chỉ ngang các nước khác. Có chăng, điểm chung của gần như tất cả bạn bè từ các nước nhỏ mà tôi quen, từ Armenia, Uzbekistan, Ba Lan, Bỉ, Slovakia, Serbia, Syria, Columbia, Cuba tới Myanmar, Bangladesh…chỉ là sự cảm thông bị láng giềng to bắt nạt trong lịch sử. Còn chuyện yêu quý nhau, tốt với nhau là quan hệ cá nhân, không gắn với dân tộc tính. Ở tầm quốc gia, đúng là có những quan hệ đôi khi hữu hảo hơn giữa nước này với nước kia nhưng thường là giữa các nước cách xa nhau, không va chạm láng giềng hàng xóm, hoặc có tính toán chính trị bao trùm, hay bị bộ máy tuyên truyền thổi lên. Cũng như vậy, câu chuyện Cuba thay đổi đang được cả thế giới quan tâm chứ không chỉ người Việt Nam.


Tươi sáng hơn Việt Nam


Vậy những nỗi lo hộ Cuba trong người Việt cần được trả lời thế nào? Theo tôi, ta không có gì phải lo cả vì tương lai Cuba có nhiều khả năng sẽ sáng sủa hơn Việt Nam những năm tới. Dù nhanh hay chậm, ta dễ thấy quốc gia này có nhiều điều kiện để trở nên giàu có một khi hệ thống hiện nay biến đổi. 

Thứ nhất, so với Việt Nam, nước đông dân thứ 13 thế giới, cả Cuba chỉ có trên 11 triệu người nên đầu tư nước ngoài sẽ dễ tạo tác động nhanh chóng biến đổi diện mạo hòn đảo nhỏ xinh đẹp, nắng ấm quanh năm này. Một số nhà kinh tế đã bắt đầu so sánh Cuba với Costa Rica, một đảo quốc tuy nhỏ nhưng phát triển kinh tế rất tốt thời gian qua. Cả hai có cấu trúc dân số tương tự (đa số gốc Âu) và có hệ thống giáo dục tốt, cộng thêm lợi thế về du lịch vì gần Hoa Kỳ này.  Costa Rica có thu nhập 18 nghìn USD bình quân đầu dân và Cuba chỉ cần một khoản đầu tư lớn từ bên ngoài, ví dụ vài trăm tỷ USD, là có thể tái thiết và đẩy mức thu nhập 6 nghìn USD bình quân đầu dân một năm hiện nay lên rất cao trong thời gian ngắn.

Thứ hai, ta không nên quên người Cuba ở Mỹ có trên 2 triệu, một tỷ lệ rất cao so với cộng đồng Việt Nam ở Mỹ, Canada trên 90 triệu người Việt trong nước. Tác động do tiền kiều hối người Cuba gửi về đã rất mạnh và trong tương lai, với khoảng cách rất gần họ sẽ còn về nhiều, đầu tư, làm ăn nhiều hơn.,Cộng đồng này cũng đã rất mạnh về chính trị tại Mỹ với nhiều dân biểu Hạ viện, Thượng nghị sỹ, thậm chí ứng viên tổng thống, nên tác động của họ vào Cuba là đương nhiên.

Thứ ba, điều dễ thấy là nền tảng văn hóa của Cuba gắn liền với khối Nam Mỹ và cả cộng đồng Hispanic đang lớn mạnh ở Hoa Kỳ nên Cuba không sớm thì muộn cũng ‘rơi trở lại’ vào cái gốc đó. Giai đoạn một thời cách mạng kiểu thân Moscow sẽ chỉ còn là một dĩ vãng.

Thứ tư, khác với Việt Nam hiện lơ lửng giữa tác động truyền thống của Trung Quốc và giao lưu có phần tăng lên với ASEAN, Cuba có 64% là người da trắng và gắn kết chặt chẽ với Tây Ban Nha – cha ông Fidel Castro là người đến từ Galicia, Tây Ban Nha – nên tác động từ Liên hiệp châu Âu tới Havana đã và đang đều đặn và tích cực.

Và thêm nữa, như báo chí đã viết, đa số người Cuba theo Công giáo và các vị Giáo hoàng, từ John Paul II tới Benedict XVI và Francis hiện nay đều kiên trì tác động để Cuba mở cửa. Báo Anh tuần qua viết về Cuba và ba nhân vật liên quan đến dòng Tên (Jesuits). Ông Fidel Castro và người bạn lớn của Cuba, nhà văn Colombia Gabriel Garcia Marquez đều từng học trong trường do các giáo sỹ Jesuits dạy. Vị giáo sỹ dòng Jesuit Jorge Mario Bergoglio từ Argentina nay là Giáo hoàng Francis thì đóng vai trò trực tiếp bảo trợ cho cuộc đàm phán Washington – Havana một năm qua. Thậm chí, không phải tình cờ mà cả hai ông Barack Obama và Raul Castro đều chọn ngày sinh nhật 78 của Giáo hoàng đầu tiên người Nam Mỹ để công bố tin thay đổi ngoại giao.

Tôi viết ra để cho các bạn thấy dù có chút gắn kết tình cảm chống Mỹ giữa Havana và Hà Nội, tương lai Cuba đang phụ thuộc vào các tác nhân hoàn toàn không dính líu gì đến Việt Nam cả.
Với các bạn vận động cho dân chủ, bài học Cuba chắc chắn rất thú vị nhưng Cuba có các tác nhân hoàn toàn khác Việt Nam nên cách đi của họ cũng sẽ khác. Tương lai Cuba sẽ dần do người Cuba, gồm cả cộng đồng đông đảo của họ ở Hoa Kỳ, quyết định, cộng thêm tác động từ Vatican và châu Âu, chưa kể cả khối Công giáo khắp vùng châu Mỹ La Tinh.


Một thời mà thôi


Cũng phải nói thêm là tại vùng Nam Mỹ, hào quang cách mạng thiên tả một thời lừng lẫy của Fidel Castro nay đã mờ dần. Cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962 đã đẩy Fidel về phía Liên Xô và kinh tế Cuba hoàn toàn phụ thuộc vào Moscow.

Sau khi Liên Xô tan rã, ông Fidel tìm đến nước Venezuela nhưng với giá dầu sụt giảm, Carracas cũng không thể nào cưu mang được Havana mãi.

Dù người ta có thể đổ lỗi cho Hoa Kỳ nhưng nhìn lại thì cả hai quyết định tìm đồng minh nói trên của Fidel đều đem lại hậu quả tai hại về kinh tế. Người Mỹ La Tinh từng ngưỡng mộ ông Fidel nhưng gần đây họ đã có những ngôi sao khác.

Đó là Tổng thống Lula da Silva có tầm nhìn toàn cầu của Brazil hay Tổng thống Jose Mujica ‘nghèo nhất thế giới’ của Uruguay, người từ chối ở dinh thự sang và tiếp khách quốc tế tại nông trại đơn sơ của mình.

Cứ thế, lịch sử luôn thay đổi và Cuba cũng phải dần biến đổi để không bị rớt lại thành một bảo tàng lớn của mô hình bao cấp kiểu Liên Xô.

Một quốc gia Cuba giàu mạnh, dân chủ trong tương lai sẽ là một điểm sáng cho khu vực Nam Mỹ và cả thế giới nên chẳng việc gì mà các bạn Việt Nam phải lo chuyện ‘được hay mất’ đầy hoài niệm cảm tính.


Nguyễn Giang (BBC)
(Tiêu đề do chủ blog đặt lại)









Bài mới đăng

Bài ngẫu nhiên