Powered By Blogger





Showing posts with label Câu chuyện từ cuộc sống. Show all posts
Showing posts with label Câu chuyện từ cuộc sống. Show all posts

Sunday, 1 March 2015

Nơi tuổi 17 hẹn









Hà Nội vẫn còn nhiều quán nước chè. Có thể nói hình ảnh quán nước chè, nhất là vào mùa đông, đã làm nên khung cảnh thành phố, thậm chí còn có mặt trong thi tứ. Tuy nhiên quán nước chè thường gây cảm giác cũ kỹ, không mấy hấp dẫn với giới trẻ trừ khi có những cậu choai choai mê số đề. Sáng tạo vô cùng là khả năng kinh doanh của thị dân, bởi một biến tướng của nước chè là trà chanh đã một dạo làm mưa làm gió, đến mức có hẳn cụm danh từ “trà chanh chém gió” thuần ưu tiên cho giới trẻ. Cả khu vực quảng trường Nhà thờ Lớn, dọc theo các phố cổ Hà Nội là các quán trà chanh với hàng nghìn cô cậu mới lớn ngồi trên những cái ghế nhựa, với thực đơn chủ yếu chỉ là trà chanh và hạt hướng dương. Nhưng nhất thiết là phải nhắm với Nhà thờ Lớn, với quảng trường, với ngã tư phố cổ. Nghĩa là phải có những điểm hẹn. Những nơi mà tuổi trẻ chiếm đa số, và người nào chỉ cần xấp xỉ bốn mươi chen vào ngồi là đã có thể làm bọn chanh cốm ấm ách như đang chơi vui thì bị phụ huynh phá đám.

Năm vừa rồi, bộ phim được nhiều người thích là Giải cứu ngài Banks, nội dung về việc tác giả P. L. Travers của tác phẩm Mary Poppins nổi tiếng dành cho trẻ em khắp thế giới đã đồng ý cho hãng Disney chuyển thể thành điện ảnh sau 20 năm từ chối. Bà Travers có sở thích uống trà như những người Anh điển hình khác, và ông Walt Disney đã chinh phục được nữ tác giả khó tính bằng một việc là bay từ Hollywood đến tận nhà bà ở London, và làm bà ngạc nhiên khi ông tự tay rót trà đúng nghi thức cho người phụ nữ này: “Rót trà từ ấm vào tách rồi mới rót sữa vào sau”. Bà ta tuyên bố ghê tởm việc uống trà từ cốc giấy kiểu Mỹ. Có vẻ như cũng khó tính ngang người Hà Nội uống nước chè phải được hãm đặc và trong chén sứ. Nhưng đấy chưa phải câu chuyện tôi muốn đề cập, mà là câu chuyện không đưa lên phim. Bà Travers không lập gia đình, đến năm 40 tuổi nhận một cậu bé người Ireland làm con nuôi. Cậu bé còn có một đứa anh trai song sinh nữa, nhưng bà chỉ nuôi một đứa theo lời khuyên của thầy bói. Thằng bé cho đến năm 17 tuổi mới biết là mình có anh trai song sinh, nhân một hôm đứa kia đến London gõ cửa nhà bà Travers đòi gặp em mình, trong tình trạng đang say rượu. Bà này dĩ nhiên từ chối, tống cổ nó ra đường và dọa gọi cảnh sát. Sau đấy thì thằng con nuôi cũng cãi nhau với bà mẹ và đi tìm thằng anh đang ngồi trong một quán rượu. Lời đứa cháu kể lại: “bà chết mà không yêu ai và cũng không ai yêu”.

Trong câu chuyện cuộc đời có vẻ bi kịch của người phụ nữ uống trà cầu kỳ kia, tình tiết cậu trai 17 tuổi đi tìm được người anh song sinh trong một quán rượu ở trong phố lại là một cuộc đoàn viên ấn tượng. King Cross (Ngã tư Vua) – nơi có quán rượu đó – là một khu vực có nhà ga, hẳn là một điểm hẹn phổ thông để giữa thành phố lớn vào năm 1940 không có điện thoại di động, người ta vẫn tìm nhau được. Sau này thế hệ trẻ cả thế giới đã biết Ngã tư Vua với sân ga 9 ¾ hư cấu trong truyện Harry Potter. Dĩ nhiên quán rượu của người Anh chắc cũng phổ thông như quán nước chè Hà Nội, nhưng ngoài ngôi nhà mình, không gian thứ hai nào tuổi trẻ thích ngồi hơn cả ngoài những điểm hẹn như thế?

Ngay từ khi người Pháp tiến hành xây dựng thành phố Hà Nội hiện đại, việc mở các quán cà phê là “nghiệp đoàn thương nhân đầu tiên có nhiều người tham dự” và sôi nổi nhất. Ngay sau khi chiếm đóng Hà Nội năm 1884, trong vòng 1 năm, ở phố Hàng Khảm (tức Hàng Khay và đoạn đầu Tràng Tiền ngày nay) đã có một loạt quán cà phê ra đời: Café du Commerce, “nơi tụ hội của các quý ông thương gia”, Café de Paris gần khu Nhượng địa, Café Albin, Café de la Place, Café Block và Café de Beira, “nơi hội tụ của quý ngài sĩ quan”, quán sớm nhất, gọi theo tên bà chủ. Báo chí thời đó đã ghi nhận “hiệu cà phê của bà Beira là một thiết chế của Hà Nội”, nó có sân thượng và mái hiên nhìn ra phố. Cà phê đã tham gia vào việc ấn định những điểm hẹn cho khung cảnh đô thị Hà Nội, rồi ngay cả thời bao cấp khi cà phê là của hiếm, có lúc còn bị cấm bán, vẫn có những “Quán cà phê ngoại ô” của Lưu Quang Vũ, điểm hẹn của tuổi trẻ mộng mơ mà cao ngạo:

Mười bảy tuổi chúng ta thường tới đó
Nói rất nhiều về những cửa biển xa
Cái tuổi trẻ ồn ào mà cay cực của ta 

Thời của Lưu Quang Vũ, điểm hẹn là những quán cà phê, quán rượu cóc bên cạnh những“Trong thành phố có một vườn cây mát. Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về”. Thật ra uống rượu, cà phê hay nước chè không phải là cái quyết định cho đám thanh niên tới hay không, lịch sử cũng cho thấy thức uống là theo trào lưu và điều kiện nguồn pha chế dồi dào hay không. Cái chính là địa điểm có cảm giác khiến cho bọn họ thấy mình thuộc về. Nên mới hiểu vì sao có những quán có chỗ ngồi khá tiện nghi nhưng lại không đông bằng quán có mỗi đoạn vỉa hè. Khổ nỗi vỉa hè ấy lại nhìn ra nhà thờ, ra hồ Thiền Quang, hay ra ngã tư có cái cây bàng dáng đẹp nhiều lá đỏ. Ấm ớ thay, đơn giản mà nhiêu khê là tuổi trẻ.

Tác giả đoạt giải Nobel văn học mới nhất là Patrick Modiano có cuốn sách mang cái tên gây chú ý:  Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối. Lấy bối cảnh là quán cà phê và những phố xá Paris, cuốn sách nên chuyện trước hết là vẽ ra một không gian có những điểm hẹn của giới trẻ thành thị. Nếu thay “quán cà phê” bằng một loại địa điểm khác, có vẻ không gian không gợi được nhiều liên tưởng bằng. Cà phê là nơi người ta dễ ngồi để nói chuyện nhất, và mang tinh thần hiện đại của đô thị. Có những đô thị đã hấp dẫn vì nền văn hóa quán xá, chúng làm nên cái nội dung sinh động cho cái vỏ kiến trúc.

Một trong những điểm đến được khách du lịch nước ngoài ưa thích ở Hà Nội là ngã tư Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến. Ở đây cũng có nhà đặc trưng phố cổ, nhưng đáng kể là tập trung các quán bia hơi, cà phê và nước chè, theo đúng lối vỉa hè Hà Nội. Sự đông đúc nhộn nhịp du khách trẻ các màu da khiến cho nó được gắn mác hơi có chất tự trào “ngã tư quốc tế”. Cái gì làm nên hiện tượng này? Khách vào những quán này không kể Tây hay ta đều được đón tiếp đon đả, giá bia hay lạc đều rẻ ngang nhau. Vài con phố nhỏ loanh quanh, đi một hồi dễ gặp lại người mới quen. Tất cả khiến cho họ thấy đây là nơi họ thuộc về. Nếu bạn 17 tuổi và ở Hà Nội, bạn sẽ hẹn nhau ở chốn nào?

Nguyễn Trương Quý


Wednesday, 25 February 2015

Năm Dê, Nói Chuyện…Sex







Vài nhà báo và BCA hỏi thăm về một bài viết về xuân mới cho Tết. Viết nửa chừng cái tựa thì khựng lại, vì năm Dê thì chắc cũng chỉ có chuyện sex. Ở tuổi 69, thú thật là ông già Alan đã không còn ham muốn và đã quên mất là sex vui đến thế nào đến nỗi đã “xài” hơn phân nửa thời gian của đời mình 55 năm qua trên giường. Chỉ có nhóm đỉnh cao trí tuệ với 85 năm trên giường là phá kỷ lục “ngủ bậy” của ông già Alan này.

Người viết có nhiều kỷ niệm với con Dê. Lần đầu gặp nhau Alan vừa đủ 18 tuổi xuân, năm 1964 gì đó. Tôi đi theo bạn cùng phòng, thăm trang trại của gia đình hắn ở Virginia vào một cuối tuần nghỉ lễ dài. Sáng hôm sau, dậy sớm tản bộ , hưởng khí trời trong sạch của vùng quê an bình. Khi đi ngang chuồng dê, ông bố vừa mở cửa để dê ra ăn cỏ cây ngoài đồng. Ông nuôi khoảng 30 con dê gì đó, chính là để vắt sữa bán cho vài siêu thị, nhà hàng quanh đó. Khoảng 30 con dê cái và 1 chú dê đực độc nhất. Ông giải thích là 2 con dê đực sẽ đánh nhau suốt ngày để làm lãnh tụ; và cả bầy dê cái chỉ cấn 1 con có sức để thoả mãn.

Chuồng vừa mở, con dê đực đứng choáng ngay cửa ra, và lần lượt bầy dê cái khoảng 30 con phải “nạp tô” cho ngài dê đực (vài phút thôi); rồi mới được tiếp tục đi ra đồng. Ông bố cười,” sáng nào nó cũng làm đủ 30 cái rồi lại quay vào chuồng ngủ tiếp”. Dù mới 18 tuổi, tuổi của mộng mơ (đôi lúc nhìn khúc gỗ cũng thèm muốn); nhưng tôi không còn bao giờ nghĩ rằng bất cứ một sinh vật nào trên đời có thể “so sánh” với ngài dê đực của tôi. Ngay cả sau này, khi quen biết các quan chức đại gia của XHCN.

Ngoài thiên tài phong phú trên, ngài dê đực còn nhiều tính tốt đáng bậc trượng phu quân tử. Ngài không thích tán tỉnh cù rú như bầy chim hoàng anh hay quấn quít như lũ rắn khi “in heat”. Ngài cứ “be be” vài tiếng rồi “không nói nhiều, hốt liền”. (cũng may ngài không làm chính trị). Tôi chắc chắn là cả vạn danh nhân, lãnh tụ…trên thế giới, có thể để lại cho đời bao nhiêu túi khôn của vũ trụ (hay bao nhiêu xương trắng máu đào), vẫn không thể nào có bữa điểm tâm bằng  một góc của ngài dê.

Đôi khi bạn bè tụ họp để bàn về sự suy yếu trì trệ của xã hội Việt. Đủ mọi lý do được phân giải, từ cơ chế chính trị, kinh tế đến tình huống hay sự phá hoại của con ruồi (quên, của các thế lực thù địch).  Phần lớn là do lỗi của “thằng Mỹ”. Không ai nhìn vào tấm gương của ngài dê đực của tôi mà kết luận “chỉ vì mình chém gió nhiều quá”. Chuyện thật thì hiếm, nên cứ bịa đặt thoải mái ra chuyện “thần thoại” cho đỡ uẩn ức trong lòng. Xin nói thêm là ông già Alan cũng thuộc loại vô tích sự này. Sáng mở mắt ra, thấy 30 con dê cái đang ngổn ngang đợi chờ, thì cũng phải lo thoát ra cửa sau mà trốn.

Thực ra, tôi không biết dân Việt có hạnh phúc như các anh chị Tây ba lô mô tả không? Nhưng tôi chắc phần lớn nhân loại đều tin rằng ở Việt Nam, cứ ra ngõ là gặp anh hùng. Vào thời chiến thì anh hùng tính này không thể chối cãi. Cả 2 phe Việt tham chiến đều tổn thất nặng nề, lên đến cả triệu sinh mạng. Nếu chúng ta “hiền” như người Lào thì suốt thời đánh đấm này, có lẽ chỉ vạn người hy sinh. 

Tính anh hùng không sợ chết còn thể hiện rõ ràng trong thời bình. Không kể chuyện cưa lựu đạn để lấy thuốc súng hay đào bom bán sắt vụn vẫn truyền tụng khắp dân gian; người Việt lái xe quá can đảm nên tử vong do tai nạn giao thông không thua kém gì các thiệt hại thời chiến. Ăn nhậu của dân Việt cũng đâu ra đó: mặc bao nhiêu cảnh báo về sự độc hại của rượu bia, thuốc lá, phụ phẩm từ ông bạn tốt 16 chữ vàng, chúng ta vẫn lăn xả vào cuộc mỗi đêm để lấy danh hiệu “số một về ung thư khắp phổi gan ruột”. Sống ở quê hương nhiều năm qua, tôi và bạn bè thấy người Việt ta gần như “không sợ” bất cứ điều gì, kể cả pháp luật.

Tuy nhiên, sống lâu trong long xã hội, mặc cho cái ngang tang tự hào ngoài mặt, người Việt vẫn tiếm ẩn vài điều sợ hãi.

Trước hết, chúng ta sợ thay đổi vô cùng. Sau hai lần thay đổi đến tận cùng gốc rễ vào 1945 rồi 1975, người dân hai miền Nam-Bắc, già hay trẻ, đã thấm đòn sâu sắc; và nhìn thay đổi quanh thế giới hay ngay cả làng mạc phố xá quanh mình như một “biến thể” thay vì là một trạng thái “tự nhiên” của thời thế. Con đà điểu sẵn sàng chúi đầu vào cát như con chim vừa thoáng thấy cây cong.

Tiếp đó, chúng ta sợ sự thật. Lớn lên, trưởng thành rồi già yếu trong sự dối trá bịa đặt hàng ngày hàng giờ của bộ máy, người dân không còn khả năng phân biệt giữa kiến thức nghiêm túc khoa học và những tuyên truyền thần thoại về mọi vấn đề. Chúng ta không muốn “khôn” ra vì khi nhận thức rằng mình đang bị bịp hàng ngày là khi phải đối diện những con quỷ trong cô đơn và thất vọng. Không ai muốn đeo trên mình nỗi đau cay đắng đó. Thôi thì bịt mắt cho qua.

Cái sợ lớn lao khác là sợ hành động. Chúng ta phải bầy đàn vui chơi ăn nhậu, chứng tỏ mình lạc quan hạnh phúc vì nếu phải “làm” trong hỗn loạn của văn hóa cơ chế này cũng đồng nghĩa với việc bơi ngược dòng thác chảy của con cá hồi nhỏ bé, với hy vọng mỏng manh là vượt qua thử thách để quay về nguồn.

Nhiều nỗi sợ linh tinh khác khá phổ thông giống như nhiều sắc dân toàn cầu, nhưng 3 cái sợ trên đủ để giữ chân một vài thế hệ trong suy thoái và trì trệ. Chúng ta có thể quan sát sự năng động và trí sáng tạo của những người Việt đã thoát khỏi những gông cùm đó và đã tìm cho mình một định mệnh riêng, tự mình thiết kế.

Cũng xin nói thêm là không ai nên hoang tưởng là “thay đổi” hay “sự thật” hay “hành động” sẽ làm đời mình tốt đẹp hơn. Nhiều khi cái giá phải trả còn cay đắng hơn là yên thân định vị. Như ngài dê đực của tôi. Tôi chắc chắn là trong đời ngài, nhiều lần ngài húc bậy, nhẩy bậy và chạy bậy, khiến cái sừng bị gẫy hay bộ râu dê bị cắt (thảm hại hơn nếu cái kia bị nạn).  Nhưng mỗi buổi sáng, ngài vẫn là ngài, làm những gì mà Trời đã ban phát và cho tận hưởng. Chắc chắn ngài không muốn “làm người” và sống an phận như các bác, các “trật tự viên” đã khôn ngoan dặn dò.

Theo thông lệ, khi khai bút đầu năm, tôi phải chúc Xuân chúc Tết mừng các Bác mừng các Ông Nội Bà Ngoại. Mừng cả một dân tộc vinh quang vĩ đại ngoài kia. Thôi thì như Tú Xương, xin chúc mọi người sống cho ra kiếp “Dê” năm Ất Mùi này.

Be be….

Alan Phan




Wednesday, 26 November 2014

Ai sẽ nhìn ra biển?






Bà Ruby Holt, một người vừa kỷ niệm tuổi 101 của mình ở bang Tennessee, Mỹ. Suốt cuộc đời của bà chỉ quẩn quanh ở ngôi nhà của mình và nơi làm việc. Sống bằng nghề thu hoạch bông vải, thanh bạch và cần mẫn, bà Ruby Holt đã nuôi lớn 4 đứa con của mình nhưng chưa bao giờ có dư dả để có được một chuyến đi xa khỏi nơi trú ngụ.

Trước ngày kỷ niệm bà 101 tuổi, khi được hỏi về một ước muốn cuối đời, bà Ruby Holt im lặng một lúc rồi nói bà chỉ muốn được nhìn thấy biển. Suốt cuộc đời quẩn quanh với cánh đồng và những rặng núi xa xa, bà Ruby Holt chỉ thấy biển qua truyền hình, qua tạp chí… “Người ta nói biển đẹp lắm, nhưng tôi chưa bao giờ có cơ hội đi đến”, bà Ruby Holt nói với vẻ ngại ngùng, chất phác.

Cùng với gia đình, bà Ruby Holt được đưa đi đến bãi biển ở Vịnh Mexico. Hình ảnh cụ bà sống qua một thế kỷ lần đầu tiên nhìn thấy, chạm chân vào cát và nước biển đã làm cho nhiều người xúc động đến rơi nước mắt. Như một đứa trẻ, bà Ruby Holt dè dặt nhúng chân vào một làn nước biển và mỉm cười. “Lạnh há”, bà Ruby móm mém nói.

Thật khó mà diễn tả được cảm nhận của con người khi đứng trước biển, cảm nhận sự vĩ đại của thiên nhiên, cảm nhận được sự nhỏ bé của mình. Nhưng với bà Ruby Holt thì cảm giác đó có lẽ còn nhiều hơn nữa vì trước khi vào cõi vô định, bà lại chứng kiến điều thật lớn lao trong cảm giác và ước muốn của mình – một ước muốn lương thiện. Cô đơn ngồi trước biển, sẽ khó có ai hơn bà Ruby khi cảm nhận sự phù du của cuộc sống, sự vô nghĩa của cuộc sống của con người, dù có sống được đến trăm năm.

Người ta kể lại rằng bà Ruby Holt ngồi im lặng rất lâu trước biển. Bà nhìn về cuối chân trời, nơi không có gì nơi đó, ngoài những làn sóng dịu dàng đuổi nhau đến bờ cát nơi bà ngồi. Những cánh chim bay thoáng qua bầu trời và ánh nắng chiều toả lan trên nét mặt răn reo của bà, như muốn sưởi ấm cho bà trong một ngày gió lạnh.

Điều làm cho rất nhiều người im lặng, nghĩ về mình, khi chứng kiến bà cụ 100 tuổi ngồi trước biển, như một cuộc từ giã đầy ý nghĩa với địa cầu. Người phụ nữ đó đã suốt trọn vẹn một cuộc đời thanh bạch, chưa biết đến bất kỳ một điều xa xỉ nào. Ấy thế khi chọn điều ước cuối, người phụ nữ đó lại chọn một điều bình dị khó ngờ. Tâm hồn của một người lương thiện sáng như một ánh cầu vồng, thanh thản đối diện trước đoạn đường cuối cuộc đời bằng nắng và gió, và sóng biển. Tất cả những điều đó không thể diễn tả hết bằng âm nhạc hay thi ca, mà chỉ bằng sự yêu mến và cảm nhận cuộc sống này.

Trong những câu chuyện biết được trong cùng một thời gian, còn có việc ông tổng thanh tra Trần Văn Truyền ở Việt Nam bị phát hiện có một khối tài sản khổng lồ. Nhiều ngôi nhà và đất đai của một viên chức nhà nước, mà theo lương chính thức công bố th oong taì chỉ có thu nhập vài chục triệu đồng một năm. Khối tài sản lớn đến mức nếu chiếu theo thu nhập công khai đó, nhiều thế hệ dòng họ của ông Trần Văn Truyền có làm cật lực thì chỉ mới mong có được một phần.

Khác với bà cụ 100 tuổi Ruby Holt, ông Truyền không nhìn thấy cánh đồng, không nhìn thấy cuộc đời của mình với sóng biển hay nắng, mà cái nhìn của ông chỉ hướng về nhà, xe, tiền của… nhưng quan trọng hơn, đó là của cải không thuộc về mình. Ông Truyền chỉ nhìn thấy những thứ nơi giam hãm cái nhìn con người ông vào những góc tù ngục nhất trong trái tim.

Bà Ruby Holt suốt cuộc đời, chưa thấy ai nói rằng bà tuyên bố mình là người lương thiện. Nhưng ông Truyền thì có. Trong cuộc chiến được giao phó trách nhiêm chống lại những kẻ bòn rút, cắn xé tài nguyên quốc gia, thụ hưởng cả từng đồng xu lẻ tiền thuế của dân nghèo Việt Nam, ông Truyền có tuyên bố nhiều lần mình là người tốt, là người sẽ không khoan nhượng với những kẻ xấu.

Có bao nhiêu người Việt nghèo khó và lương thiện trên đất nước này chưa bao giờ có thể đi xa khỏi nơi mình ở, chưa bao giờ thấy cái gì khác hơn ngoài mái tranh và ruộng vườn bấp bênh của mình? Và có bao nhiêu những người như ông Truyền, với cuộc sống không còn nhìn thấy gì ngoài dối trá, danh lợi và cưỡng bức tài nguyên của mảnh đất mình sinh ra? Khác bà Ruby Holt và những người Việt quẩn quanh ở quê nhà của mình, ông Trần Văn Truyền ắt đã đi nhiều nơi, đã từng ngồi ở những resort thượng hạng. Nhưng ngay khi đối diện với biển và tương lai, chắc ông Truyền cũng đã không còn đủ sự lương thiện để nghĩ về sự nhỏ nhoi vô minh đời mình, ngoài từ việc mơ cất thêm những mái lầu cao, và những con số để lừa gạt mọi người?

Tôi cũng tự hỏi có bao nhiêu người như ông Truyền đọc được những dòng này và suy nghĩ cho phần mình? Ai trong số họ sẽ một lần ngồi trước biển như cụ bà Ruby Holt, im lặng và nghĩ suy bằng mầm lương thiện sót lại?




Tuấn Khanh
Blog Tuấn Khanh








Thursday, 30 October 2014

Thịt chó có mùi lạ






Thịt chó, từ rất lâu, được coi là quốc hồn quốc túy, món thịt giàu đạm chữa được bệnh thối mồm này thậm chí đã đi vào ca dao dân gian được ngân nga bởi các anh bợm nhậu:

Sống ở đời, ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ, biết có hay không?

Đủ biết, thịt chó là món ăn đặc sản ở các làng quê Việt Nam.

Ở quê tôi, cứ có giỗ chạp thì hay thịt chó, nhà giàu thì chơi cả con, nhà nghèo thì đánh đụng, tức hai hay ba nhà họ hàng chung tiền mua một con, con chó đó có thể của chính một trong những nhà đó, thế là hò nhau trói vào rồi cắt tiết, ôm bó rơm để thui, phụ nữ ra vườn đào sả đào riềng hái rau hái ớt.

Chó thịt, ở Việt Nam thường được mua gom từ các làng quê, nhưng rất ít, chỉ những nhà rất túng tiền kiểu chị Dậu mới phải bán chó, còn họ hay để đánh đụng, hoạc bán cho họ hàng để đánh đụng, (đánh đụng là mỗi nhà trả 1 phần tiền để mua 1 phần thịt chó, mọi người cùng xùm vào làm thịt ăn chia rất vui).

Như quê tôi, số người bán chó gần như không có.

Chó thịt lại chưa được nuôi đại trà cho tới thời điểm này, vì nhiều lí do, tất nhiên cho nuôi đại trà được, Hổ còn nuôi đc nữa là chó, nhưng chủ yếu với giá thịt chó hiện tại, người nuôi kiểu công nghiệp sẽ lỗ.

Vì chó không lớn nhanh như lợn, cắn nhau và sủa đàn gây tiếng ồn kinh khủng, cộng với tiêm chủng khá khắt khe và nguồn thức ăn khá khảnh, chúng không ăn cám công nghiệp được như lợn và lớn rất chậm. tôi đã xem một clip họ phải nhồi cám công nghiệp vào họng chó như nhồi vịt.

Và rất dễ bị nhiễm bệnh, người nuôi chó cỏ để thịt gần như cầm chắc lỗ.

Cũng có nhà nuôi khoảng vài con do tận dụng đc nguồn thức ăn lấy được từ nơi làm việc như quán ăn nhà hàng, nhưng nuôi đại trà thì chưa có.

Vậy thịt chó đến từ đâu? Có nhiều nguồn như nhập lậu thì Thái lan hay Lào hay Căm pu chia, nhưng khá bấp bênh do nước bạn đang siết chặt, Và cũng phần nhiều là chó ăn trộm, ở Thái, tội buôn bán chó trái phép có thể bị 1 năm tù.

Có thể nói, trong mười miếng thịt chó bạn ăn, có đến tám miếng là thịt ăn cắp.

Đó là đội quân cảm tử luồn lách khắp hang cùng ngõ hẻm với đinh ba và súng điện, bao tải và dây thừng, họ bắt trộm chó để cung cấp cho các quán nhậu.

Người việt Nam có câu: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, vậy theo lí, những người ăn thịt chó cần cám ơn các anh trộm mới đúng lí, vì nếu nói thịt chó là quả, người nuôi chó là cái cây, thì các anh là người hái quả.

Nhưng không, các anh trộm bị lên án, bị đánh hội đồng hết sức dã man, trong 10 vụ các anh trộm bị đánh lên báo, thì có đến sáu vụ các anh chết, thậm chí có anh bị đốt xác. Có xe máy bị đốt treo lên cột điện để răn đe.

Đánh chết trộm chó bị kêu án rất nhẹ hoặc không xử lí được, đã có vụ, cả làng đánh chết hai anh trộm chó và chưa bị sao hết dù cả làng kí vào bản nhận tội.

Người thành phố quý chó của nhà mình do mình nuôi, nhưng sẵn sàng ăn thịt chó ăn cắp nhà người khác, và khi chó nhà mình bị ăn cắp, họ sẵn sang lu loa lên án đòi đánh chết người trộm chó.

Khi bạn ăn 1 miếng thịt chó mà thấy mùi lạ, đừng ngạc nhiên, rất có thể có mùi thịt người trong đó.


Nguyễn Quang





Thursday, 24 July 2014

Hồi.....







Đời người có 5 Hồi. 
*
*
Hồi nhỏ. 
Hồi hộp. 
Hồi xuân. 
Hồi tưởng

Hồi kết.




Monday, 14 July 2014

Tên miền thương nhớ






...
1.
xưa tôi làm xuất nhập khẩu, hay lãnh hàng ca gô hàng không ở kho TCS, cùng làm hàng với tôi thời đó có một chị nọ, tôi nhớ chị cao, ốm và đen, nhưng lúc nào cũng được làm hồ sơ trước, lãnh hàng trước tôi và mọi người, giống như có một sự ưu ái đặc biệt nào đó. Có lần cafe chờ ngớt mưa, tôi ngồi chung với chị, hỏi ra mới biết chị tên là Hà Tiên, ba má chị sanh chị ở Hà Tiên thì đặt luôn tên vậy, chị dân biển nhưng nhà nghèo, một mình áo nóp lên Sài Gòn mưu sinh chớ cũng nhớ biển lắm, chị nói hổng hiểu sao ai cũng thích cái tên này, cứ thấy tên chị là người ta ưu tiên một chút, riết rồi quen, cũng thích, người ta thương mình bởi cái tên đó em.

2.
quán café tôi hay ngồi mỗi sáng có nhiều nhân viên phục vụ, đa số đều rất dễ thương, khách ngồi ở quán đều là khách quen, sáng nào cũng ngồi ăn sáng café trước giờ đi làm, thường vô quán kêu phục vụ khách chỉ gọi “em ơi”, nhưng riêng quán này có hai bạn phục vụ được gọi tên nhiều nhất, đó là hai bạn trẻ, tên là Bạc Liêu và Cà Mau. Tôi không biết đó có phải là tên khai sanh của các bạn hay chỉ là tên gọi chơi, chỉ thấy khách hàng gọi suốt, Cà Mau cho chị rau trụng, Bạc Liêu ly đá của anh đâu, tính tiền Cà Mau ơi, thậm chí ra về kéo ghế còn ngoái lại, chị về nghe Bạc Liêu… kêu riết hai bạn này bận túi bụi nhưng có vẻ vui, ở đời, được gọi tên là vui rồi,

3.
hôm qua tôi đi khám ở bệnh viện, lúc đọc tên chỗ lấy thuốc thì thường nhân viên sẽ đọc tên kèm theo quê quán, ví dụ, mời anh ABC ở Long An, mời bác XYZ ở Tiền Giang, mời chị OPQ ở Bình Dương, mời Lê Thị Sài Gòn, ở… chị đọc tên khựng lại một vài giây rồi im hẳn, tên Sài Gòn thì tất nhiên là ở Sài Gòn rồi, đó là một cô bé nhỏ nhắn, tầm 18-20, tôi thấy cháu có vẻ mắc cỡ vì bị mọi người nhìn nhưng cũng khá vui, hỏi chuyện thì hóa ra cháu là … người ngoài bắc, bố mẹ sanh cháu ở Sài Gòn nhưng giờ cả nhà đã lên Bình Phước sống, (chuyện của cháu khá dài, hôm nào rảnh kể riêng), cháu nói, cháu thích tên Sài Gòn lắm chú, gặp ai cháu cũng xưng tên, tên hay, ai cũng khen vậy.

4.
đọc báo mạng thấy có tin về đời tư của Andrea và Baggio, tưởng là sao bên tây hóa ra không phải, là sao Việt, tôi không phản đối chuyện đặt tên con theo kiểu tây, dù đôi khi nhà chẳng có yếu tố nước ngoài nào, nhưng tôi vẫn thích một cái tên thuần Việt hơn, và nếu đó là một cái tên của một vùng đất nào đó, dù nghèo đói quê mùa bao nhiêu, vẫn hay hơn. Có biết bao nhiêu người Việt được đặt tên theo địa danh, như tôi, Hà Phú là ghép giữa Hà Tĩnh và Phú Yên, bây giờ thằng cháu tôi, sanh ở Sài Gòn, tên nó là Hà Tĩnh, tôi thích tên đó vô cùng. Thời tôi, những cái tên-địa-danh có lẽ nhiều hơn bây giờ, ví như Trường Sơn, đó là một địa danh rất ít người ở, nhưng nó đã là tuổi trẻ là tình yêu là cuộc đời của biết bao ông bố bà mẹ, Trường Sơn luôn là cái tên đẹp và ý nghĩa, hay như trước đó, là Điện Biên, là Mường Thanh, là Him Lam… chẳng hạn.

5
một cái tên quê, có thể nó không đẹp như Hồng Hồng Tuyết Tuyết, có thể nó không tây như Andrea hay Baggio, có thể nó quê mùa như Gò Quao, Xẻo Rắn, Cài Bè, Kinh Cụt, Trà ôn, Trà Ếch… gì đó, nhưng luôn là một cái tên thương mến. Tôi sẽ luôn thương những người mang tên quê, tôi thương một người mang cả quê hương trong tên mình, tôi sẽ thương một người mang cả một miền thương nhớ suốt cuộc đời mình, đó là những cái tên đẹp, đẹp nhứt.

Đàm Hà Phú





Monday, 7 July 2014

Mẹ xin lỗi vì không thể cho con một người bố








Con gái yêu của mẹ! Khi mẹ viết những dòng chia sẻ này, mẹ đã khóc rất nhiều và hơn thế, mẹ thương con gái của mẹ vô cùng…

Con biết không?, con đã chào đời được 9 tháng rồi. Mẹ đã vô cùng hạnh phúc khi được bế con trên tay, nhìn con lúc đó bé xíu, đôi mắt mở to nhìn mẹ. Từ đó đến nay, mọi tủi hờn trong mẹ dường như tan biến hết, thay vào đó là tình yêu vô bờ bến dành cho con.

Con yêu à, sau này khi con lớn lên, con sẽ hiểu và thông cảm cho mẹ. Vì mẹ là người mẹ không được ăn học đàng hoàng, tử tế, gia đình mình lại quá nghèo. Hơn thế nữa, bà nội bảo tuổi bố và mẹ không thể hợp nhau được, lấy nhau sẽ làm khổ nhau nên mẹ để bố ra đi mà không thể ở bên cạnh mẹ con mình.

Mẹ biết, mẹ rất có lỗi khi để con phải chịu thiệt thòi vì không có bố ở bên cạnh chăm sóc và bảo ban con như những đứa trẻ khác.

Nhưng con yêu của mẹ à, bố con là một người tốt, chỉ là mẹ không xứng đáng với bố nên mẹ đành để bố đi lấy người khác. Mẹ không muốn ích kỷ, không muốn bố vì mẹ mà có lỗi với ông bà nội của con.

Mặc dù con chưa hề được công nhận là cháu của ông bà, nhưng không sao con à, chỉ cần con và bố luôn hạnh phúc là mẹ vui rồi. Mẹ xin lỗi con vì đã không thể cho con một gia đình hoàn chỉnh, xin lỗi con vì không thể cho con một người bố. Mẹ mong con sau này sẽ hiểu và thông cảm cho mẹ. Mẹ đau lòng lắm, cuộc tình của bố mẹ chưa thành thì đã tan, mẹ vẫn phải cảm ơn cuộc đời vì đã cho con đến bên mẹ.

Mẹ con mình sẽ cùng cố gắng vượt qua tất cả những năm tháng khó khăn, vất vả này nhé. Phải cố gắng, dù trời đất có sụp xuống mẹ vẫn yêu con hơn chính mạng sống của mình.

Mẹ không thể mang lại hạnh phúc cho bố, chính vì thế sau này con cũng đừng trách bố nhé, bố cũng yêu con như mẹ yêu con vây.

Vì mẹ mà tất cả mọi chuyện mới trở nên như vậy, mẹ thật sự xin lỗi hai bố con. Xin lỗi con vì không thể cho con có cả bố lẫn mẹ. Xin lỗi anh vì đã làm anh phải khổ vì có con với em và phải chăm lo cho hai mẹ con em.

Hạnh Thu





Thursday, 13 March 2014

Tàu ngầm - Trực thăng -  Công trình khoa học Madein VietNam








Sáng nay mình xem tivi thấy tàu ngầm Trường Sa của anh Nguyễn Quốc Hòa nhô lên hụp xuống trong bể nước rất hoành. Và mình tự hào. Thôi thì ra biển được hay không chưa biết, nhưng rõ ràng là cái tàu ngầm của anh này, đóng hoàn toàn thủ công, bằng não của một anh kỹ sư bình thường, bằng những thứ đồ thải mua ở hàng lạc soong, đã chìm dưới nước hàng mấy tiếng đồng hồ. Và quan trọng là, có anh Nguyễn Quốc Hòa ngồi trong ấy...

Lại nhớ đến một ông nông dân khác, anh Nguyễn Văn Thắng, đã chế tạo một cái trực thăng, đã nổ máy ngon lành rồi, thấy anh ấy ngồi trên ấy rồi, nhưng rồi bị buộc phải giữ nguyên trạng sau khi đã... tháo cánh.

Còn rất nhiều các bác nông dân Việt Nam nữa, chế tạo ra từ máy gặt lúa, bóc vỏ, gieo hạt, bón phân... điều mà lẽ ra các tiến sĩ, giáo sư, các trí thức lẫm liệt trong các viện nghiên cứu, các trường đại học... phải làm...

Thống kê cho thấy Việt Nam có nhiều tiến sĩ nhất Đông Nam á (24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ). Nhưng tỉ lệ nghịch với số đấy là Việt Nam ta  cũng chưa có một trường đại học nào lọt vào tốp 500 trường đại học nổi tiếng thế giới? Và cho đến giờ, những phát minh đình đám như tôi kể trên kia, phần lớn không phải do đội ngũ các nhà khoa họa làm, mà toàn do... nông dân, cao lắm là anh kỹ sư như anh Nguyễn Quốc Hòa kia!

Tôi cũng thấy rất nhiều chê bai từ phía xã hội với những phát minh, những việc làm "rồ dại" như chế tạo máy bay, tàu ngầm Madein Vietnam kia. Chê là đúng, bởi nào phải là thứ đồ chơi mang ra bãi cỏ là xong, đằng này nó đụng đến rất nhiều vấn đề, rất nhiều người... nếu mang ra chạy (bay) thử.

Nhưng nó cũng đụng đến một thứ, đấy là sự tự ái của những người lẽ ra phải làm được nhưng đã không làm.


Vậy nên, lẽ ra thấy các nhà sáng chế nông dân kia căm cụi làm thì nên ủng hộ họ bằng cách, chí ít là, thấy người ta làm xong rồi, dũng cảm chui vào đấy (như một cái quan tài bằng sắt, hihi) ngồi ngon lành mấy tiếng lặn trong bể nước rồi, thì nới cái quy định mà lâu nay chưa có trong cuộc sống kia ra, cho "mày" bơi thử ra biển phát, hoặc cho bay lên giời phát. Có nhiều điều mà thực tế nó chứng minh là thực tế thì đúng mà những tính toán lý thuyết thì sai. Vậy thì khuyến khích người ta, biết đâu lại có một cái Madein Vietnam đình đám, mà không thì cũng coi như giúp người ta thỏa cái ước mơ chinh phục, ước mơ sáng chế, dù mình thấy nó là... rồ dại.

Còn hơn một mặt thì cản trở, mặt khác ngồi nghĩ ra các quy định kiểu như ngực lép thiểu năng dạo nào?

Ở cấp trung ương mình chả dám nói, vì nó toa lắm, nhưng cấp tỉnh, mình biết cái gọi là "nghiên cứu khoa học" nó như thế nào rồi. Nói sẽ đụng chạm, nhưng quả là, nhiều người sống khỏe nhờ cái món "nghiên cứu khoa học" này, nhưng làm xong để làm gì thì... đố ai biết. Chả cứ khoa học xã hội, mà khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng cũng thế.

Mình, từ lâu rồi, hồi còn hăng hái "nghiên cứu khoa học" đã viết 1 cái thư cho giám đốc sở thời ấy nói rằng không bao giờ mình đăng ký nghiên cứu ở đấy, cho dù nhiều người bảo ông nên đăng ký một cái mà làm, vừa có xiền vừa có danh. Xấu hổ chết đi được. Và mình cũng từ chối, từ lâu, phản biện cho những công trình "nghiên cứu khoa học" ở đấy.

Tất nhiên để lặn (bơi) ra biển, bay lên trời, thì còn cần rất nhiều quy định, cần sự bảo vệ, cho phép... để khi anh lặn, bay... không... đụng vào tàu hoặc máy bay thứ thiệt, không rớt vào đầu/ nhà người khác khiến họ chết oan... nhưng vẫn có cách để khuyến khích họ, cũng là tự lên dây cót tinh thần Việt, bởi tàu Cuốc Xcơ hiện đại thế vẫn chìm, và hôm qua là cái máy bay hiện đại của Mã Lai cũng rứa, cái gì chả có rủi ro, nhưng cái gì cũng cấm rồi thì... rủi ro vẫn có...

Thì là ngồi nghĩ lung tung lang thế sau khi thấy anh Nguyễn Quốc Hòa- và cả cô phóng viên VTV- chui vào bụng cái tàu ngầm Trường Sa, và hụp lặn trong bể nước...

Thế mới tài, hihi...

Coppy từ blog :Văn Công Hùng
(Tiêu đề do chủ blog đặt lại)




Wednesday, 19 February 2014

Người đàn bà “hủi” thành tỉ phú








Những thước phim âm bản
  

Những năm cuối thập niên 1980, bộ phim Chuyện tử tế thật sự là một “cơn địa chấn” trong làn sóng đổi mới.

Quá nhiều điều để nhớ, nhiều triết lý để suy ngẫm trong phim, nhưng ấn tượng nhất với tôi là trường đoạn về một phụ nữ bị hủi ở Thái Bình, đêm đêm ngồi đóng hàng vạn viên gạch với giấc mơ xây cho con trai bé bỏng một ngôi nhà tử tế.

Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu bên bờ ao, chị nhồi đất, ra khuôn, những viên gạch chưa nung cứ xếp thành hàng thành lối, và ống kính cận cảnh những ngón tay của chị bị cắt cụt tận mu bàn tay, sần sùi, cụt từng đốt...

Đoạn phim được xử lý âm bản (négatif) và trên khung hình ấy, những lời bình vang lên nhức nhối: “...chị Hằng phải bỏ quê lang thang bờ bụi. Kiếm được đồng tiền bát gạo, đêm đêm chị lần mò mang về cho con. Nỗi đau thể xác và nhất là sự sỉ nhục về tinh thần đã đẩy chị tới một quyết định: phải tự vẫn!

Nhưng còn thằng Chiền (con trai chị)? Thằng Chiền phải có một nếp nhà trước khi mẹ nó qua đời. Vậy là đêm đêm chị lần về, bằng hai bàn tay cùi cụt co quắp không đủ ngón đốt, đã đóng một vạn tám ngàn viên gạch. Hỡi những người lành mạnh và tử tế! Một vạn tám ngàn viên gạch - Đêm, lạnh buốt và đau đớn...”.
Và trong bộ phim nổi tiếng thế giới ấy, câu chuyện về người đàn bà hủi nhấn mạnh đến “sự tử tế” của một số phận nghiệt ngã mà không hề biết rồi cuộc đời của chị sau đó sẽ ra sao.
Và mười năm sau đó, năm 1996, câu chuyện về chị Hằng “hủi” được kể lại trên báo Tuổi Trẻ khi hai nhà báo Lê Thọ Bình và Huỳnh Thanh Diệu tìm về gặp chị.





Chúng tôi trở lại Thái Bình vào một ngày mưa rét. Tìm ra được nhà của “nhân vật” thì trời cũng vừa sập tối. Những hình ảnh về chị trong bộ phim tài liệu Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy được công chúng biết đến cách nay gần 30 năm, ngày đó chị Trần Thị Hằng mới 40 tuổi. Bây giờ trước mắt chúng tôi, ở tuổi gần 70 đã là “bà Hằng” nhưng ánh mắt, giọng nói, tiếng cười vẫn là của “chị Hằng” chan chứa nghị lực.


Thật tình cho đến giờ chúng tôi vẫn không hiểu chị lấy đâu ra ngần ấy sức mạnh để đi qua muôn nỗi trầm luân cay đắng của đời mình và trở thành một tỉ phú như hôm nay, ngồi ung dung nhai trầu trong căn biệt thự đẹp vào hàng nhất thành phố Thái Bình này....Chúng tôi ấn chuông nhà chị, sau khoảng sân rộng là ngôi biệt thự bề thế sáng đèn. Cùng lúc chiếc ôtô đang lăn bánh từ sân ra. Sau vôlăng là một chàng trai tuấn tú.



“Các chú tìm mẹ cháu ạ? Mẹ cháu có nhà đấy, cháu xin phép đi có việc một chút”. À, thì ra đây là Tú Anh, đứa con trai mà trong bộ phim năm xưa là một đứa bé được gọi là Chiền, cậu đang ngồi chơi với bà ngoại, giọng bà ngoại trầm trầm: “Cháu có tên là Tú Anh. Nhưng bà bảo cái tên Tú Anh nó Hà Nội quá! Mình thì người nhà quê - bố cháu là Chiện, bà gọi cháu là Chiền. Thằng Chiền một thời ít bạn vì tiếng đồn khắp vùng mẹ nó là người hủi”.



Giờ đây “thằng bé Chiền” đang là giám đốc một công ty kinh doanh có tiếng ở Thái Bình. Đã có vợ và hai con. Nhưng đó là cả một câu chuyện dài.


Vừa châm ấm chè xanh nghi ngút khói, chị Hằng vừa cười cười: “Cứ như là giấc mơ các cậu nhỉ?”. “Còn hơn cả giấc mơ chứ chị”. “Không, giấc mơ của chị vẫn còn đấy. Những viên gạch chị đóng suốt đêm với đôi bàn tay cụt ngón mà anh Thủy quay từ 30 năm trước là để xây ngôi nhà kia, nay chị vẫn để đấy lưu niệm chứ không phải là ngôi biệt thự này”.

Rồi chị quày quả dẫn chúng tôi ra góc vườn. Ngôi nhà hai tầng xây từ dạo đó vẫn còn đứng đó như chứng tích của một thời. Gió bấc vẫn lùa lạnh buốt. Chị Hằng sờ lên từng góc tường của ngôi nhà cũ và ký ức hiện về cũng tê buốt như giá rét!

Chúng tôi biết rất khó để kể lại cả cuộc đời của chị qua một trang báo nhỏ. Năm 1967, vừa tốt nghiệp trường tài chính kế toán, chị xung phong vào chiến trường. Ba năm sau, năm 1970, sau những cơn sốt rét hành hạ suýt chết, chị trở ra miền Bắc, làm ở Cục Thu bội chính (thuộc Bộ Tài chính).

Năm 1972, bị sức ép của một trận bom Mỹ ném xuống khi đang ở Hoài Đức (Hà Tây cũ), chị bị mất sức và về quê chồng ở Bắc Ninh sinh sống.

Cuộc sống cơ cực đến nỗi Tú Anh, con trai duy nhất của chị, phải gửi về Thái Bình sống với bà ngoại. Rồi người chồng cũng phụ bạc, theo người đàn bà khác. Chị tìm về Thái Bình với mẹ và con trai bé bỏng. Ngần ấy đau đớn với một người đàn bà ngỡ là quá đủ! Nhưng không! Căn bệnh mới hành hạ chị với những ngón tay bị sưng lên nhức buốt không thể cử động được.

Từ quê chồng về với quê mẹ, không hộ khẩu, không giấy tờ, có bệnh cũng không biết khám chữa ở đâu, và cứ thế khi ngón tay sưng lên, nhức không chịu nổi, chị nung đỏ con dao sắt gí vào phần xương thịt bị lở loét kia rồi bôi bồ hóng vào để... sát trùng! Từng ngón tay bị chính chị cắt cụt như vậy. Cả thôn, cả xã bảo chị bị hủi! Con trai bé bỏng cũng bị bạn bè ruồng lánh vì mẹ nó là một người hủi.

Xã cho dân quân đến bắt chị giải lên... bệnh viện phong. Ở đó, vị bác sĩ già khám cho chị nói rằng chị không phải bị hủi mà bị chứng viêm tắc động mạch ngoại vi dẫn đến hoại tử. Nhưng ai có thể hiểu được bệnh tình của chị? Chỉ nhìn vào bàn tay không còn ngón, lở loét của chị là người làng lánh xa, bảo chị là “con hủi”. Chị mang con trai lên Nam Định cho con tránh tiếng là con của bà mẹ hủi. Ngày ngày, chị đặt Tú Anh vào đôi quang gánh, mang Tú Anh ra chợ để “thế chấp” với chủ hàng. Chị bảo: “Cháu không có vốn, cháu để con trai cháu ngồi ở đây rồi lấy chịu hàng hóa rau dưa mang đi bán, bán xong cháu sẽ trả đủ tiền và chuộc con về”. Tội nghiệp Tú Anh, cứ ngày ngày được “thế chấp” như thế, ngồi ngoan ngoãn ở góc quán đợi mẹ bán xong về “chuộc” con.

Có chút vốn, không phải mang con đi “thế chấp” nữa, chị cho Tú Anh đi học. Và với chút vốn liếng dành dụm sau khi mang con rời khỏi quê để tránh tiếng hủi, chị về lại Thái Bình, mua được một khoảnh ao làm “tấc đất cắm dùi”. Góc ao, chị dựng túp lều tựa vào mấy bụi chuối. Nhưng cuộc sống cùng cực ấy khiến chị tuyệt vọng. Viết mấy chữ gửi lại cho mẹ: “Con chết rồi, mẹ gửi Tú Anh vào trại mồ côi”. Chị ra sông Thái Hạc tự vẫn. Nhưng một ông lão làm nghề chài lưới trên sông đã cứu chị. Vớt chị lên, ông cho chị 1.000 đồng (thời giá bấy giờ tương đương 1 tạ gạo), bảo chị: “Sống mới khó, chết thì dễ”.


Thoát chết lần ấy, chị nghĩ rồi mình cũng sẽ chết vì bệnh tật. Nhưng trước khi chết cố xây cho con một cái nhà. Vậy là từ đó ngày ngày sau giờ chạy chợ chị móc đất, gánh thêm đất ruộng về tấp vào góc ao. Đêm xuống chị tự mình đóng gạch.Hàng vạn viên gạch cho ngôi nhà mơ ước ấy đã được kể trong phim Chuyện tử tế. Nhưng không chỉ có thế. Khi những viên gạch của ngôi nhà định xây cho con được hình thành thì khát vọng sống với chị càng mãnh liệt hơn.

Cái ao nhỏ đó chị thả cá, làm chuồng nuôi lợn, bán cá bán lợn chị có tiền cất vàng, mua đất. Vốn đã học qua ngành tài chính, lại nhờ duyên may qua nhiều thương vụ buôn bán, không ai nghĩ người đàn bà hủi mang con thế chấp lấy từng mớ rau đi bán dạo ấy có ngày có trong tay mấy chục cây vàng. Ngôi nhà hai tầng của chị cất lên vào đầu những năm 1990 khiến cả xã Hoàng Diệu, thị xã Thái Bình ngày ấy ngỡ ngàng. Tú Anh lúc này đã thi đậu vào Trường ĐH Kinh tế quốc dân. Năm thứ hai đại học, Tú Anh bị bệnh thiếu oxy não. Vậy là chị lại bỏ hết tất cả đưa con đi chạy chữa hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Dường như ông trời cũng muốn thử thách xem nghị lực của chị đến đâu nhưng với chị Hằng, nghị lực là không giới hạn. Mấy năm trước, Tú Anh đã trưởng thành, lấy vợ sinh con, lập công ty. Chị Hằng quyết định dựng một ngôi biệt thự to nhất vùng, dường như ngầm ý của chị muốn có một “dấu mốc” để bù đắp cho những năm tháng đã sống trong tủi nhục đắng cay. Trên vuông ao năm nào, ngôi biệt thự của hai mẹ con chị mọc lên, có hồ bơi, ao cá, cây cảnh sum vầy. Nhưng ngôi nhà cũ góc vườn được xây bằng những viên gạch chị từng thức thâu đêm trong rét buốt để đóng nay chị cũng vẫn giữ gìn nguyên vẹn để nhắc nhớ con mình.

Đưa chúng tôi tờ báo có bài viết về con trai, doanh nhân Nguyễn Tú Anh, giám đốc Công ty TNHH phòng chống mối - khử trùng Thái Bình, chị Hằng nói: Hạnh phúc lớn nhất của chị không phải ở ngôi biệt thự to đẹp hay những bất động sản của chìm của nổi đang có, mà chính là sự trưởng thành của cậu bé Chiền năm nào. Và vì đã trải qua những năm tháng tận cùng khổ cực, nên giờ đây chị Hằng dù sống trong biệt thự sang trọng, xe cộ đề huề thì chị vẫn giữ lại mấy sào ruộng để làm, vẫn băm bèo thái rau nuôi cá nuôi lợn. Và một điều nữa, khi ngồi cùng chị nhắc lại những thước phim trong Chuyện tử tế, chị hỏi: “Các em có nhớ câu nói mở đầu và kết thúc bộ phim không?”.

Tất nhiên là chúng tôi nhớ, bởi trước khi về gặp lại chị, chúng tôi vừa lên YouTube coi lại bộ phim một lần nữa. Câu nói mà chị Hằng nhắc ấy là của Karl Marx:

 “Tất nhiên chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người và chăm lo riêng cho bộ da của mình...”.  

Và vì thế từ nhiều năm nay, chị đã dành một phần lớn tài sản của mình để cưu mang những mảnh đời bất hạnh, những mảnh đời mà nhìn vào đó chị Hằng thấy lại hình ảnh ngày xưa của hai mẹ con mình.



LÊ ĐỨC DỤC - ĐỨC BÌNH
Theo: Tuổi Trẻ







Bài mới đăng

Bài ngẫu nhiên